Bc tong ket 2016 trinh dai hoi v5 final

  • 17 trang
  • file .pdf
Số: 336/2017BC-HĐQT-CTY TP.HCM, ngày 12 tháng 04 năm 2017
BÁO CÁO
TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH DOANH NĂM 2016
I. THỊ TRƯỜNG TRANG SỨC VIỆT NAM:
1. Tổng quan thị trường vàng thế giới:
Thị trường Vàng thế giới 2016 có những diễn biến khá phức tạp và dường như có sự
đối lập giữa giai đoạn đầu và cuối năm, ở giai đoạn từ đầu năm 2016, giá vàng liên tục có xu
hướng tăng mạnh và đạt đỉnh ở mức USD 1,380/oz vào tháng 7/2016 để rồi nhanh chóng đảo
chiều từ đó đến cuối năm khi đồng USD thăng hoa trên rổ tiền tệ quốc tế.
Biến động của thị trường vàng diễn ra do sự tác động bởi một số sự kiện lớn như:
Quyết định rời khỏi liên minh châu Âu của Anh (Brexit), tác động của cuộc bầu cử tại Mỹ và
những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trên toàn thế giới. Đỉnh điểm của sự
trượt dốc này là việc Fed tăng lãi suất cơ bản từ phạm vi 0.25 – 0.5% lên 0.5 – 0.75% vào
phiên họp ngày 14/12/2016 khiến giá vàng thủng mốc $1,150/oz.
24/6: Sự kiện “Brexit” – người
dân Anh chọn rời khối EU
14/12: Fed nâng lãi suất
cơ bản lên 0.75%
Diễn biến giá vàng thế giới 2016 (Nguồn: WGC)
Bên cạnh sự bất ổn về giá của thị trường khiến các nhà đầu tư cân nhắc kỹ và có tâm lý
e dè trong các quyết định của mình thì sự tác động của nền kinh tế chính trị toàn cầu cũng đã
tác động tiêu cực đến lượng cầu của thị trường vàng trên toàn thế giới. Theo kết quả thống kê
của Hội đồng Vàng thế giới (WGC), tổng nhu cầu về vàng miếng và vàng trang sức thế giới
trong năm 2016 giảm 10.6% so với năm 2015 (từ 3,435 tấn năm 2015 xuống còn 3,070 tấn
năm 2016 – Nguồn: báo cáo của WGC). Ngược lại với đường cầu, tổng lượng cung vàng trong
năm 2016 tăng 5% so với năm 2015, sự chênh lệch lớn giữa tổng cung và cầu cũng như sự lệch
pha ở giai đoạn cuối năm cũng đã tác động không nhỏ đến yếu tố giá cả của thị trường vàng.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 1
Nguồn: Hội đồng vàng thế giới( WGC)
Lượng cầu vàng trang sức trên toàn thế giới trong năm 2016 cũng có sự sụt giảm đáng
kể, tổng nhu cầu của toàn thế giới năm 2016 đạt 2,041.5 tấn (giảm 15% so với năm 2015,
tương đương 2,388.6 tấn) trong đó nổi bật là các thị trường giàu truyền thống tiêu thụ lượng
trang sức lớn đều giảm sâu như Trung Quốc (-16.4%); Ấn Độ (-22.4%); Mỹ (-0,8%); A Rập
Saudi (-18.9%); UAE (-16.4%) (sắp xếp theo lượng tiêu thụ giảm dần – Nguồn: tính toán từ
thống kê của WGC) điều này chứng tỏ rằng dưới tác động của nền kinh tế chính trị có nhiều
biến động, người tiêu dùng cũng đã cân nhắc nhiều hơn và hạn chế trong việc mua sắm trang
sức cho mình so với những thời điểm trước đây.
2. Thị trường trang sức Việt Nam:
2.1.Những diễn biến của kinh tế Việt Nam trong năm 2016:
Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo, tăng trưởng thương mại
toàn cầu giảm mạnh, hoạt động của thị trường hàng hóa kém sôi động, giá cả hàng hóa thế giới
ở mức thấp đã ảnh hưởng đến kinh tế nước ta, tăng trưởng kinh tế của cả năm chỉ đạt 6.21%,
thấp hơn mức 6.68% năm 2015. Nguyên nhân khiến đà tăng trưởng bị kìm hãm là sự sụt giảm
của công nghiệp khai khoáng, nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, hạn hán, sự cố
môi trường…
CPI tháng 12/2016 tăng 4.74% so với tháng 12/2015, bình quân mỗi tháng tăng 0.4%,
CPI bình quân năm 2016 tăng 2.66% so với bình quân năm 2015. Mức tăng CPI bình quân
năm 2016 so với bình quân năm 2015 tăng cao hơn so với năm trước, nhưng thấp hơn nhiều so
với mức tăng CPI bình quân của một số năm gần đây, lạm phát cơ bản bình quân năm 2016
tăng 1.83% so với bình quân năm 2015. Điều này phản ánh thu nhập của Người tiêu dùng Việt
Nam tăng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016; cùng với mức lạm phát thấp đã kích
thích người tiêu dùng mạnh dạn chi tiêu nhiều hơn.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 2
Nguồn:Tổng Cục thống kê
2.2.Những diễn biến chính của thị trường vàng và trang sức tại Việt Nam năm 2016:
Sự biến động của nền kinh tế thế giới và sự biến động của thị trường vàng thế gới cũng
đã có sự tác động lớn đến thị trường vàng Việt Nam, tuy nhiên, những diễn biến của thị trường
vàng trong nước vốn đã phức tạp nay còn nhiều hơn. Chênh lệch giá vàng miếng SJC trong
nước đã kéo dãn lên mức 8% (tương đương 3.5 triệu đồng mỗi lượng), mức giá vàng thay đổi
từ 33 triệu/ lượng ở giai đoạn đầu năm lên mức 36.5 triệu đồng/lượng vào thời điểm cuối năm
2016, đặc biệt vào những giai đoạn thị trường thế giới biến động, giá vàng trong nước dường
như được tiếp thêm sức bật cho đà tăng của mình, đỉnh điểm là ngày 06/07/2016 khi giá vàng
chạm mốc 39.82 triệu đồng/ lượng.
Giá vàng trong nước năm 2016
Theo thống kê của WGC, tổng lượng cầu các sản phẩm trang sức của thị trường Việt
Nam năm 2016 đạt 15.4 tấn (chiếm 0.4% tổng lượng cầu trang sức của toàn thế giới), giảm
1.4% so với năm 2015 (tương đương 0.2 tấn vàng trang sức). So với các nước trong khu vực,
ngoại trừ Trung Quốc, thị trường trang sức Việt Nam đang có mức tiêu thụ đứng thứ 3 sau
Hồng Kông (41.4 tấn –19.3%/2015); Indonesia (38.3 tấn – 1.4%/2015) và đứng trên Singapore
(12.1 tấn – 0.5%/2015); Thái Lan (11.8 tấn - 3.1%/2015); Malaysia (7.7 tấn - 7.5%/2015), điều
này cho thấy, tuy tổng lượng cầu của Việt Nam năm 2016 có giảm nhưng mức giảm không quá
lớn so với các thị trường khác trong khu vực, đây vẫn còn là tín hiệu đáng mừng của ngành
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 3
trang sức Việt Nam và chứng minh rằng thị trường trang sức Việt Nam vẫn còn có sức hấp dẫn
rất lớn.
Nguồn: Hội đồng vàng thế giới( WGC)
Nghị định 24/2012/NĐ-CP và Thông tư 22/2013/TT-BKHCN về việc quản lý hoạt
động kinh doanh vàng và siết chặt quy định về chất lượng sản phẩm trang sức đã phát huy tác
dụng trong công tác quản lý và định hướng phát triển của ngành hàng, hiện tượng đầu cơ trên
thị trường vàng miếng đã không còn xuất hiện trong khi thị trường trang sức dần dần đã có
được niềm tin từ người tiêu dùng, có thể nói thị trường vàng Việt Nam đã trở nên lành mạnh
hơn và phát triển theo đúng định hướng, chủ trương của nhà nước. Theo dữ liệu thống kê về
dân số và mức tiêu thụ vàng của thị trường Việt Nam của Hội đồng Vàng thế giới trong năm
2016 có thể tính toán được rằng, mức tiêu thụ bình quân đầu người Việt Nam trong năm 2016
đạt mức 0.04 chỉ vàng trang sức, một tỷ lệ quá thấp so với các nước trong khu vực như
Indonesia (39,18 chỉ/người/năm); Hồng Kông (1.5 chỉ/người/năm) hay Malaysia (0.06
chỉ/người/năm), như vậy có thể thấy rằng Việt Nam vẫn là một thị trường đầy tiềm năng và mở
ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn cho các doanh nghiệp.
Nguồn: Tính toán theo thống kê của WGC và thống kê dân số thế giới đến 2016
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 4
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA PNJ NĂM 2016:
1. Những chỉ tiêu tài chính cơ bản của Công ty PNJ:
¾ Doanh thu tăng
11.3%
¾ Doanh thu trang
sức tăng 13.5%
Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2016 của PNJ
¾ Lợi nhuận tăng
21.8%
¾ Lợi nhuận
trang sức tăng
18.8%
Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2016 của PNJ
Năm 2016, một năm có nhiều biến động của nền kinh tế xã hội trong nước, sự biến
động đó đã tác động khá nhiều đến thị trường vàng nói chung và ngành trang sức nói riêng, do
đó để đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu 11.3% hay mức tăng lợi nhuận của toàn Công ty tăng
21.8% so với năm 2015 là một nỗ lực rất lớn.
Thị trường bán lẻ tại Việt Nam nói chung đang trên đà phát triển mạnh mẽ, chính vì
vậy tìm kiếm được một mặt bằng phù hợp với tiêu chuẩn của PNJ trong một khu vực thị trường
có tiềm năng không phải là dễ dàng. Trong bối cảnh đó, PNJ vẫn quyết tâm thực hiện và xuất
sắc hoàn thành kế hoạch phát triển hệ thống, cụ thể là với 30 cửa hàng được mở mới năm 2016
vượt 20% kế hoạch đề ra, điều này một lần nữa khẳng định rằng khó khăn dù vẫn luôn xuất
hiện nhưng với ý chí và quyết tâm cao độ, PNJ chắc chắn sẽ thực hiện thành công các kế hoạch
kinh doanh để vững bước trong hành trình lan tỏa giá trị của Công ty.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 5
2. Kết quả hoạt động của Công ty năm 2016:
2016 +/- (%) +/- (%)
Stt CHỈ TIÊU TH 2015
KH Thực hiện SSCK SSKH
1 Tổng doanh thu 7,695,629 8,781,963 8,566,097 111.3% 97.5%
Lợi nhuận gộp bán hàng và
2 1,136,032 1,296,376 1,381,055 121.8% 106.5%
CCDV
3 Doanh thu hoạt động tài chính 25,202 12,000 12,797 50.8% 106.6%
4 Chi phi hoạt động tài chính 430,803 229,000 161,892 37.6% 70.7%
5 Chi phí bán hàng 414,552 490,724 537,302 129.6% 109.5%
6 Chi phí quản lý doanh nghiệp 115,421 128,697 130,525 113.1% 101.4%
7 Lợi nhuận thuần HĐKD 200,458 459,955 564,132 281.4% 122.6%
8 Tổng Lợi nhuận trước thuế 189,961 459,955 608,069 320.1% 132.2%
9 Lợi nhuận sau thuế 82,862 361,405 470,278 567.5% 130.0%
10 Phát triển hệ thống bán lẻ 48 25 30 62.5% 120.0%
Nguồn: Báo cáo tài chính riêng được kiểm toán năm 2016 của PNJ
Năm 2016 là năm kết thúc giai đoạn 1 trong chiến lược 10 năm của Công ty, có thể nói
rằng đây là năm gặt hái thành quả từ việc thúc đẩy và khai thác các yếu tố nền tảng được xây
dựng ở giai đoạn 1 của chiến lược này.
Tổng doanh thu toàn Công ty năm 2016 đạt 97.5% so với kế hoạch đề ra, trong đó lợi
nhuận gộp tăng trưởng 6.5% so với kế hoạch và tăng 21.8% so cùng kỳ. Kết quả này phần lớn
nhờ những lợi thế mà PNJ sở hữu như uy tín thương hiệu, chất lượng sản phẩm, chất lượng
dịch vụ, hệ thống bán lẻ rộng khắp và thuận tiện cho việc mua sắm của người tiêu dùng và nhu
cầu về trang sức ngày càng tăng của người tiêu dùng Việt Nam.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều tăng hơn mức kế hoạch đề ra lần
lượt là 9.5% và 1.4%, đều xuất phát từ quá trình phát triển nhanh chóng của mạng lưới (tăng
20% tương đương 30 cửa hàng so với kế hoạch 25 cửa hàng) và quá trình tái cấu trúc doanh
nghiệp theo định hướng chiến lược dài hạn mà Công ty đề ra. Mặt khác, cả hai chỉ số trên đều
có sự tăng trưởng chậm hơn so với các chỉ số lợi nhuận mà Công ty đạt được trong năm 2016,
cụ thể là tăng trưởng lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh là 22.6% so với kế hoạch, và
tăng 183.8% so với cùng kỳ năm 2015;
Tổng lợi nhuận trước thuế năm 2016 cả Công ty đạt 608 tỷ tăng 32.2% so với kế hoạch
và tăng 223% so với cùng kỳ năm 2015. Điều này giúp Lợi nhuận sau thuế năm 2016 của PNJ
đạt 130% so với kế hoạch và tăng 479.2% so với cùng kỳ năm 2015.Nếu loại trừ dự phòng tài
chính và thu nhập bất thường thì lợi nhuận trước thuế đạt 650 tỷ tăng 26% so cùng kỳ .
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 6
2.1.Kết quả chi tiết các ngành kinh doanh cốt lõi của PNJ trong năm 2016:
Nguồn: Báo cáo của PNJ năm 2016
Kết quả trên cho thấy tỷ trọng doanh thu bán lẻ trang sức dần phát triển theo đúng định
hướng chiến lược mà Hội đồng Quản trị và Ban Tổng Giám Đốc đề ra; Hoạt động kinh doanh
sỉ thu hẹp tỷ trọng đóng góp doanh thu và lợi nhuận bởi những khó khăn nhất định trong quá
trình hoạt động; Hoạt động xuất khẩu trang sức vẫn duy trì được tỷ lệ đóng góp doanh thu và
lợi nhuận dù thị trường và nhu cầu trang sức của thị trường thế giới có những biến động không
tốt; Tuy không phải là mục tiêu trọng tâm nhưng hoạt động kinh doanh vàng miếng vẫn có tỷ
trọng đóng góp lớn vào tổng doanh thu của doanh nghiệp.
o Hoạt động kinh doanh lẻ trang sức vàng:
Nguồn: Báo cáo của PNJ năm 2016
- Với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 27.4% tính từ năm 2012 đến nay cho thấy, hoạt động
kinh doanh trang sức lẻ của PNJ đang có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, vượt xa tốc độ tăng
trưởng trung bình của ngành. Với thành tích nhảy vọt khi có mức độ tăng trưởng so với
cùng kỳ lên đến 26% đã phần nào khẳng định tính đúng đắn của chiến lược dài hạn mà PNJ
đã đặt ra cho dù tình hình kinh tế trong nước còn gặp nhiều khó khăn cũng như áp lực cạnh
tranh ngày một gay gắt trong giai đoạn 2015 – 2016,với sức mạnh thương hiệu, mạng lưới
rộng khắp, hệ thống quản trị điều hành chuyên nghiệp, chất lượng sản phẩm vượt trội, triết
lý kinh doanh đi vào lòng người đã tạo nên thành công của Thương hiệu trang sức PNJ.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 7
- Chiến lược sản phẩm trong năm hầu hết những sản phẩm trong các bộ sưu tập có số lượng
tiêu thụ lớn đều được khai thác thế mạnh về công nghệ sản xuất của Xí nghiệp nữ trang
PNJ. Điều này giúp Công ty tăng tỷ lệ hàng sản xuất từ Xí nghiệp nữ trang PNJ dần thay
thế hàng nhập khẩu đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn cho nhãn hàng cũng như
tăng hiệu quả từ việc giá thành sản phẩm được chiết giảm đáng kể.
- Hoạt động phát triển hệ thống bán lẻ diễn ra hết sức sôi nổi, 30 cửa hàng mới được phát
triển nâng tổng số cửa hàng của PNJ trên toàn hệ thống lên mức 219 cửa hàng đến cuối
năm 2016.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ bán hàng được triển khai đồng bộ trên toàn quốc, bên cạnh
đó, chương trình đánh giá chỉ số hài lòng của khách hàng đối với chất lượng phục vụ của
đội ngũ tư vấn viên được thực hiện ngày càng chuyên nghiệp và chất lượng hơn, những
hoạt động này đã giúp nâng cao chất lượng dịch vụ bán hàng của PNJ qua kết quả đánh giá
chỉ số tín nhiệm thương hiệu (NPS)
2.2.Kinh doanh sỉ trang sức vàng:
Quá trình dịch chuyển cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp trên thị trường trang sức bởi
định hướng phát triển của nhà nước cũng như xu thế thị trường dẫn đến hoạt động kinh doanh
sỉ của PNJ gặp nhiều khó khăn hơn.
Mặc dù hoạt động kinh doanh sỉ của PNJ đã có những điều chỉnh nhất định thông qua
những chính sách kích cầu và tăng tính chủ động trong quá trình kinh doanh như: xây dựng và
áp dụng chính sách đại lý cho khách hàng kênh sỉ, tổ chức thực hiện chào hàng tận nơi và thậm
chí là hoạt động bán hàng trực tuyến…, tuy nhiên doanh thu công sỉ trong năm 2016 chỉ đạt
78.9% kế hoạch đề ra và giảm 15% so với cùng kỳ năm 2015 khiến mức đóng góp doanh thu
của hoạt động này vào tổng doanh thu của toàn Công ty từ mức 34% (năm 2015) xuống 29%
(năm 2016).
Một nhánh của hoạt khối kinh doanh sỉ là công tác bán hàng cho các doanh nghiệp dưới
dạng quà tặng, sản phẩm khuyến mãi… đây có thể nói là một ngách thị trường giàu tiềm năng
mà Công ty có tập trung nguồn lực khai thác và bắt đầu có hiệu quả, tăng trưởng doanh thu so
với cùng kỳ tăng 59%, hoàn thành 111%/ kế hoạch năm 2016.
2.3.Hoạt động kinh doanh xuất khẩu:
Lượng cầu vàng trang sức trên toàn thế giới trong năm 2016 cũng có sự sụt giảm đáng
kể cùng với sự bất ổn của nền kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước đã tác động một phần đến
hoạt động kinh doanh xuất khẩu của PNJ trong năm vừa qua. Mặc dù trong bối cảnh đó, hoạt
động xuất khẩu của PNJ vẫn duy trì tỷ trọng đóng góp doanh thu vào tổng doanh thu của toàn
Công ty cũng như giữ được đà tăng trưởng ở mức 2 con số, cụ thể là tăng 10% so với cùng kỳ
năm 2015 và đạt 103.06 tỷ đồng; đạt 95% kế hoạch đề ra.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 8
2.4.Trang sức bạc:
Nguồn: Báo cáo của PNJ năm 2016
Kết quả kinh doanh cho thấy, doanh thu năm 2016 tăng 22.3% so với cùng kỳ năm
2015 và đạt 99.9% so với kế hoạch năm 2016 đã đề ra, đây là sự nỗ lực vô cùng lớn của nhãn
hàng PNJSilver trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các nhãn trang sức thời trang trong và
ngoài nước đang đẩy mạnh khai thác thị trường tiền năng này Sự nỗ lực của nhãn hàng
PNJSilver đã giúp tỷ lệ tăng trưởng kép (CAGR) của nhãn hàng này tăng trưởng từ 7.7% (giai
đoạn 2014 – 2015) vọt lên mức 12.6% (giai đoạn 2015 – 2016). Trong quá trình tái cấu trúc lại
chính mình, PNJSilver đã tập trung chuyên sâu phân tích nhu cầu của khách hàng tiềm năng,
cải tiến hoạt động nghiên cứu thiết kế và tung mẫu sản phẩm và bộ sưu tập liên tục phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng, xây dựng các chất liệu truyền thông và marketing phù hợp từ đó
đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng doanh thu của nhãn hàng, thêm vào đó là những chương trình
tiếp thị truyền thông sáng tạo phù hợp với tâm lý và thị hiếu của nhóm khách hàng mục tiêu.
Bộ sưu tập Amazing của nhãn hàng PNJSilver
Tính từ giai đoạn tháng 6/2016 đến tháng 12 năm 2016, tốc độ tăng trưởng doanh thu
bình quân đều đạt mức bình quân > 35%/tháng, những chỉ số tài chính trên phản ánh một tín
hiệu vô cùng lạc quan cho nhãn hàng PNJSilver trong năm 2017 và các năm tiếp theo.
2.5.Hoạt động kinh doanh trực tuyến:
Đây là hoạt động mà PNJ đang hướng đến để tạo nền tảng cho sự phát triển cùng với
khuynh hướng phát triển chung của xã hội. Tổng doanh thu của hoạt động này mang lại cho
Công ty 15.2 tỷ đồng đạt 96% kế hoạch đề ra. Tổng doanh thu tăng 30% so với cùng kỳ năm
2015; tỷ trọng đóng góp doanh thu của dòng trang sức bạc tăng từ 11% lên mức 19. Tuy tốc độ
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 9
doanh thu tăng cao nhưng hoạt động kinh doanh trực doanh trực tuyến vẫn chưa đạt được mức
kỳ vọng và đúng tiềm năng của thị trường do còn nhiều hạn chế về nguồn nhân lực và cơ sở hạ
tầng.
Nguồn: Báo cáo của PNJ năm 2016
3. Những chỉ tiêu tài chính trong năm 2016 của PNJ:
Tiêu chí Đơn vị 2016 2015
Các chỉ số về thanh khoản, vốn
Khả năng thanh toán hiện hành Lần 1.53 1.42
Khả năng thanh toán nhanh Lần 0.14 0.08
Nợ trên vốn chủ sở hữu Lần 1.40 1.29
Vòng quay hàng tồn kho Vòng 2.89 3.46
Số ngày tồn kho Ngày 126 106
Doanh thu thuần/Tổng tài sản Lần 2.37 2.59
Các chỉ số hiệu quả hoạt động
LN gộp/ doanh thu thuần (GPM) % 16.22% 14.82%
Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuần(ROS) % 5.52% 1.08%
Lợi nhuận ròng kinh doanh chính / Doanh
thu thuần(ROS) % 6.1% 5.2%
Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản (ROA) % 13.10% 2.80%
Lợi nhuận ròng / Vốn chủ sở hữu (ROE) % 31.38% 6.40%
Nguồn: Báo cáo riêng của PNJ năm 2016
Chỉ số về khả năng thanh toán hiện được cải thiện tăng 7.75% so với cùng kỳ, chủ yếu
do tăng tồn kho đồng thời kiểm sóat vốn vay. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đã góp phần
bổ sung cho nguồn vốn lưu động.
Tính đến cuối năm 2016, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của PNJ là 1.4 lần, tăng so với mức
1.29 lần của cùng kỳ năm 2015.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 10
Số ngày tồn kho tăng, phán
ánh sự thay đổi trong cơ
cấu doanh thu khi nhóm
trang sức cao cấp ngày
càng chiếm tỷ trọng cao.
Đây là xu hướng tất yếu
của doanh nghiệp bán lẻ
nói chung và trang sức nói
riêng. Ngoài ra, tại thời
điểm cuối năm 2016 bắt
đầu mùa kinh doanh và các
chương trình trọng điểm phải tăng lượng dự trữ hang hóa so với thời điểm cùng kỳ 2015. Số
ngày tồn kho của từng kênh được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong mức trung bình của các
doanh nghiệp cùng ngành trên thế giới.
Sự thay đổi trong cơ cấu dòng hàng cũng như kênh bán hàng đem lại tỷ suất lợi nhuận
gộp tăng 9.4% so với cùng kỳ và sẽ còn tiếp tục tăng trưởng trong các năm tiếp theo.
Trong năm 2016 các chỉ tiêu về lợi nhuận ròng đều tăng so với cùng kỳ do ảnh hưởng
từ chi phí dự phòng tài chính trong năm là 84.7 tỷ đồng thấp hơn nhiều so với năm 2015.
Trong đó ROE đạt 31.4%, tăng 390% so năm 2015. Tương ứng ROA 2016 đạt 13.10% tăng
368% so năm 2015.
Chỉ số ROS trong năm 2016 là 5.52% tăng 411% so với 2015, nếu loại trừ chi phí do
dự phòng tài chính, ROS 2016 đạt 6.1% tăng 17.3% so năm 2015.
Các chỉ số về hiệu quả hoạt động này đã phản ánh rõ nét sự tăng trưởng trong hoạt
động kinh doanh cốt lõi của PNJ.
III. NHỮNG ĐÒN BẪY CHIẾN LƯỢC GIÚP PNJ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG:
Để có được những thành quả trên, bên cạnh sự nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên của
PNJ còn là sự đúng đắn trong công tác định hướng chiến lược của HĐQT, Ban lãnh đạo Công
ty mà những định hướng đó được thực thi thông qua các đòn bẩy chiến lược sau:
1. Tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững:
Như đã xác định trong định hướng hoạt động năm 2016 tại báo cáo trình Đại hội đồng
cổ đông năm 2015, để Công ty phát triển bền vững cần thiết phải đảm bảo sự hoàn thiện về các
yếu tố nền tảng, trong đó ba khía cạnh chính bao gồm:
1.1.Đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực:
Năm 2016, Công ty đã hoàn tất quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức theo mô hình quản
trị của các Công ty có kinh nghiệm thực hành tốt nhất trên thế giới nhằm đảm bảo nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực cho toàn Công ty thông qua hệ thống chỉ số KPIs của từng
đơn vị và cá nhân.
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 11
Trong năm 2016, Công ty chú
trọng nhiều đến công tác phát
triển nguồn nhân lực, đặc biệt là
chú trọng đến yếu tố làm thế nào
để nguồn nhân lực có chất
lượng, chính vì thế công tác
phát triển nguồn nhân lực đã tập
trung giải quyết các nội dung cơ
bản như: (1) Hoàn tất cơ cấu tổ
chức của của Công ty và định
biên nhân sự cho từng đơn vị;
(2) Hoàn tất quá trình xây dựng năng lực lõi cho từng vị trí làm việc và triển khai đánh giá
trên toàn bộ người lao động, đây chính là cơ sở để công tác đánh giá chất lượng nguồn
nhân lực được thực hiện một cách chính xác và khoa học, đồng thời chỉ rõ các yếu tố cần
phát huy, cải thiện của từng nhân sự của từng đơn vị phòng ban. Bên cạnh đó, Công ty đã
thực hiện 171 khóa đào tạo tăng cường kiến thức chuyên môn, kỹ năng cho người lao động,
nâng cao chất lượng dịch vụ…, chính vì thế PNJ đã khẳng định được thương hiệu của mình
trên thị trường lao động khi 2 năm liên tiếp đạt thành tích Top 100 doanh nghiệp có môi
trường làm việc tốt nhất Việt Nam, đây chính là một trong những hoạt động mà PNJ chú
trọng trong hành trình kiến tạo giá trị vàng của mình.
1.2.Đánh giá, đo lường và cải tiến quy trình:
Các quy trình hoạt động của PNJ đã được thực hiện đánh giá hiệu quả từ đầu năm
2016, qua đó PNJ đã tiến hành hiệu đính cải tiến và đo lường các quy trình nhằm vận hành
hiệu quả. Đặc biệt những quy trình cối lõi đã được đánh giá một cách kỹ lưỡng và tiến hành
hiệu đính để đạt hiệu quả cao nhất, đơn cử như quy trình dự báo hàng hóa cung cấp cho hệ
thống bán lẻ. Sau khi tiến hành cải tiến, tỷ lệ dự báo chính xác đã được nâng lên mức 90%
trong năm 2016, điều này đã giúp công tác điều phối sản xuất và hàng hóa đến hệ thống tốt
hơn, giảm tỷ lệ hàng tồn trên kênh phân phối cũng như tăng hiệu quả kinh doanh.
1.3.Tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin:
Năm 2016 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong việc hoàn thiện và áp dụng hệ thống
CNTT trong toàn bộ hoạt động sản xuất- kinh doanh của Công ty PNJ, đồng thời với sự tư vấn
của một trong những đơn vị tư vấn lớn hàng đầu thế giới, Công ty đã xây dựng chiến lược công
nghệ thông tin dài hạn với đầy đủ các phân hệ theo chuẩn công ty đa ngành, đa quốc gia, việc
triển khai chiến lược công nghệ thông tin này sẽ làm bàn đạp vững chắc cho PNJ trong công
tác quản trị, điều hành và nghiên cứu phát triển giai đoạn 2017 – 2022.
2. Tạo ưu thế vượt trội về sản xuất:
Bên cạnh những yếu tố nền tảng, sự đóng góp của Xí nghiệp nữ trang PNJ là không hề
nhỏ trong quá trình phát triển của PNJ trong những năm vừa qua, có thể thấy sự đầu tư trong
lĩnh vực sản xuất là một bước đi dài hạn và hoàn toàn đúng đắn mà HĐQT và Ban lãnh đạo
Công ty đặt ra. Với lực lượng sản xuất có tay nghề cao, trang thiết bị và công nghệ sản xuất
hiện đại vào bậc nhất thế giới cùng với sự đầu tư hợp lý công tác Nghiên cứu phát triển (R&D)
cho đến hiện nay Xí nghiệp nữ trang PNJ đã khẳng định mình bằng những sản phẩm có chất
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 12
lượng và tiêu chuẩn tương đồng với các sản phẩm trang sức nhập khẩu. Làm chủ công nghệ và
chủ động trong công tác sản xuất, Xí nghiệp nữ trang PNJ đã góp phần tạo nên lợi thế cạnh
tranh lớn cho PNJ, cụ thể là:
- Chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch hàng hóa
- Tăng hiệu quả kinh tế từ việc giảm giá thành sản phẩm
- Khai thác các nguồn lực (con người, máy móc thiết bị, vốn, vòng quay nguyên liệu…)
của Công ty một cách hiệu quả
- Chiến lược sản phẩm và chiến lược Marketing sáng tạo độc đáo
Tiếp nối chuỗi thành công trong năm 2015, năm 2016 các hoạt động tiếp thị đã tiếp tục
có những hoạt động gây tiếng vang trên thị trường, tuần lễ thời trang Việt Nam tiếp tục được
chứng kiến những tuyệt phẩm trang sức mang dấu ấn PNJ.
Tuyệt phẩm của PNJ trong tuần lễ thời trang Việt Nam
Bên cạnh những hoạt động truyền thông cho Công ty, các chương trình truyền thông
tiếp thị của các nhãn hàng phục vụ cho công tác quảng bá sản phẩm và kích cầu cũng được
triển khai hết sức sáng tạo, phù hợp với tâm lý tiêu dùng của các phân khúc thị trường của từng
nhãn hàng tiếp tục để lại những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người tiêu dùng,
Bộ sưu tập Her Time của nhãn hàng PNJSilver
PNJ - Báo cáo kết quả hoạt động SX-KD 2016 13