Bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở việt nam hiện nay

  • 86 trang
  • file .pdf
ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2007- 2011
ĐỀ TÀI
BẠO HÀNH GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ
TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện:
TS. Phạm Văn Beo Phạm Thị Mỹ Ngân
MSSV: 5075283
Lớp: Luật Tư pháp 3 - K33
Cần Thơ, 4/2011
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU..…………………………………………………………………………1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẠO HÀNH
GIA ĐÌNH………………………………………………………………………………5
1.1 Khái niệm gia đình ……………………………………………………………....5
1.1.1 Định nghĩa gia đình. …………………………………………………………...5
1.1.2 Vai trò của gia đình ……………………………………………………………6
1.1.2.1 Đối với giáo dục thế hệ trẻ.. ..……………………………………………...6
1.1.2.2 Đối với công tác phòng chống tội phạm ..………………………………….7
1.2 Khái quát chung về người phụ nữ Việt Nam ...…………………………………8
1.2.1 Khái quát về cuộc sống người phụ nữ Việt Nam .……………………………..8
1.2.1.1 Trong xã hội phong kiến ..…………………………………………………8
1.2.1.2 Trong xã hội thời hiện đại........................................................................ 9
1.2.2 Vai trò của người phụ nữ.…………………………………………………….10
1.2.2.1 Vai trò người phụ nữ trong gia đình ..…………………………………….10
1.2.2.2 Vai trò người phụ nữ trong xã hội ………………………………………..11
1.3 Khát quát chung về trẻ em ……………………………………………………..12
1.3.1 Khái niệm trẻ em ……………………………………………………………..12
1.3.2 Khái quát về quyền trẻ em ……………………………………………………13
1.3.2.1 Những quy định của pháp luật về quyền trẻ em…………………………..13
1.3.2.2 Tìm hiểu nội dung quyền trẻ em ………………………………………….14
1.4 Khái quát chung về bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em……………15
1.4.1 Khái niệm bạo hành gia đình …………………………………………………15
1.4.2 Phân biệt bạo hành gia đình và bạo lực gia đình ……………………………..17
1.4.3 Biểu hiện của bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em …………………..18
1.4.4 Đặc điểm của phụ nữ và trẻ em bị bạo hành …………………………………20
1.4.4.1 Đặc điểm về thể chất ……………………………………………………..20
1.4.4.2 Đặc điểm về tinh thần …………………………………………………….21
1.4.5 Nguyên nhân và hậu quả của bạo hành gia đình …………………………….22
1.4.5.1 Nguyên nhân bạo hành gia đình ………………………………………….22
1.4.5.2 Hậu quả của bạo hành gia đình .. …………………………………………24
1.5 Quan điểm của xã hội về bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em………25
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ
PHÒNG, CHỐNG BẠO HÀNH GIA ĐÌNH………………………………………...28
2.1 Những quy định của pháp luật về phòng ngừa bạo hành gia
đình…………...28
2.1.1 Quy định của pháp luật về biện pháp thông tin, tuyên truyền………………...28
2.1.2 Quy định của pháp luật về hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa thành viên
trong gia đình…………………………………………………………………………...29
2.1.3 Quy định của pháp luật về tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư ...30
2.1.3.1 Tư vấn về gia đình ở cơ sở………………………………………………..30
2.1.3.2 Góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư…………………………………30
2.2 Những quy định của pháp luật về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân
bạo hành gia đình ……………………………………………………………………..31
2.2.1 Quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân bạo hành gia đình ...........31
2.2.1.1 Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ........………...32
2.2.1.2 Cấm tiếp xúc theo quyết định của Tòa án………………………………...33
2.2.2 Quy định của pháp luật về các biện pháp hỗ trợ nạn nhân bạo hành gia đình..34
2.2.2.1 Quy định của pháp luật về chăm sóc nạn nhân bạo hành gia đình tại cơ
sở khám, chữa bệnh.……………………………………………………………………34
2.2.2.2 Quy định của pháp luật về cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo hành gia đình..….35
2.2.3 Quy định của pháp luật về trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan tố
chức trong phòng, chống bạo hành gia đình .. …………………………………………37
2.2.3.1 Trách nhiệm của cá nhân …………………………………………………38
2.2.3.2 Trách nhiệm của gia đình …..…………………………………………….38
2.2.3.3 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhà nước .….…………………………39
2.3 Những quy định của pháp luật về xử lý vi phạm các hành vi bạo hành gia đình….…...........39
2.3.1 Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính các hành vi bạo hành gia đình..........39
2.3.1.1 Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục,
trường giáo dưỡng..... ……….…………………………………………………………39
2.3.1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bão hành gia đình….……….40
2.3.1.3 Những quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ trẻ em.............. 44
2.3.2 Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hình sự các hành vi bạo hành gia đình ...... 45
2.4 Một số quy định của pháp luật về bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ
em ở một số nước ASEAN hiện nay ....………………………………………………47
2.4.1 Luật về xóa bỏ bạo hành gia đình ở Indonesia năm 2004 ……………………48
2.4.1.1 Tìm hiểu chung về Luật xóa bỏ bạo hành gia đình……………………….48
2.4.1.2 Quy định của pháp luật Indonesia về xử lý hành vi bạo hành gia đình …..48
2.4.2 Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em ở Philippines năm 2004……………..49
2.4.2.1 Tìm hiểu chung về Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em .. ……………50
2.4.2.2 Quy định của pháp luật Philippines về xử lý hành vi bạo hành gia đình
đối với phụ nữ và trẻ em..... ……………………………………………………………51
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG BẠO HÀNH GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG………………………53
3.1 Những kết quả tích cực của công tác phòng, chống bạo hành gia đình đối
với phụ nữ và trẻ em ……………………………………………………….…………53
3.2 Thực trạng bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em
ở Việt Nam hiện nay……………………………………………… ............................ 54
3.2.1 Thực trạng bạo hành gia đình đối với phụ nữ...………………………………54
3.2.1.1 Bạo hành về thể chất. ……………………………………………………..55
3.2.1.2 Bạo hành về tình dục …………...……………………………………...... 58
3.2.1.3 Bạo hành về tinh thần …………………………………………………….59
3.2.2 Thực trạng bạo hành gia đình đối với trẻ em…………………………………61
3.2.2.1 Bạo hành về thể chất. ……………………………………………………..61
3.2.2.2 Bạo hành về tình dục…………….………………………………………..62
3.2.2.3 Bạo hành về tinh thần …………………………………………………….63
3.3 Những bất cập trong công tác phòng, chống bạo hành gia đình đối với
phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam hiện nay………………………………………………64
3.3.1 Những quy định của pháp luật về phòng, chống bạo hành gia đình còn
nhiều điểm hạn chế, chưa phát huy hết hiệu quả…………….…………………………64
3.3.1.1 Những hạn chế trong quy định về biện pháp cấm tiếp xúc……………….64
3.3.1.2 Những hạn chế trong quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi
phạm hành chính ……………………………………………………………………….65
3.3.1.3 Những hạn chế trong quy định về xử lý hình sự………………………….68
3.3.1.4 Những hạn chế trong việc áp dụng những quy định của pháp luật vào
thực tiễn do điều kiện khách quan………………………………………………………70
3.3.2 Công tác truyên truyền về bạo hành gia đình cũng như phổ biến pháp luật
về bạo hành gia đình còn yếu và thiếu …………………………………………………71
3.3.3 Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo hành gia đình hoạt động thiếu hiệu quả ……….72
3.3.4 Nhận thức của công dân về vấn đề bạo hành gia đình còn chưa đúng đắn và
đầy đủ ………………………………………………………………………………….74
3.3.5 Các cơ quan chức năng, ban ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội vẫn
chưa thực sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề bạo hành gia đình …………………………75
3.4 Giải pháp phòng, chống bạo hành gia đình phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam
hiện nay……………………………………………………………………… ………..76
3.4.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật về phòng, chống
bạo hành gia đình……………………………………………………… ......………….76
3.4.2 Nâng cao nhận thức công dân về vấn đề bạo hành gia đình đối với phụ nữ
và trẻ em thông qua công tác thông tin, tuyên truyền.....………………………………77
3.4.3 Tạo nền tảng kiến thức về xây dựng gia đình văn hóa cho công dân...………78
3.4.4 Tăng cường sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức xã hội, cộng đồng về vấn đề
bạo hành gia đình ...............................…………………………………………………79
3.4.5 Tăng cường vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan nhà
nuoc1 đối với vấn đề bạo hành gia đình..... ……………………………………………79
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………….81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bất cứ ai sinh ra trên cuộc đời này đều mong ước có một gia đình hạnh phúc, để
làm chổ dựa tinh thần nâng đỡ cuộc đời mình. Gia đình vẫn được xem là “tế bào của
xã hội”, gia đình có bền vững, thì xã hội mới thực sự phát triển. Để có được một gia
đình hạnh phúc, thì các thành viên trong gia đình phải biết yêu thương, chăm sóc,
tôn trọng lẫn nhau. Nhưng trong cuộc sống gia đình ngày xưa và ngày nay vẫn luôn
luôn tồn tại những vấn đề nan giải. Nếu như ngày xưa, cuộc sống gia đình bị ràng
buộc nhiều bởi lễ giáo phong kiến, thì ngày nay, cuộc sống gia đình lại bị chi phối
nhiều bởi “cơm, áo, gạo, tiền”. Không phải ai cũng được sống trong một gia đình
hạnh phúc thực sự. Một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến hạnh phúc
gia đình là nạn bạo hành gia đình.
Trong những năm gần đây, thực trạng bạo hành gia đình đã không còn là câu
chuyện của riêng một gia đình nào nữa, mà nó đã trở thành một vấn đề của toàn xã
hội. Nếu như ngày xưa, vợ chồng gây gổ, đánh nhau là chuyện bình thường, thì
ngày nay, với hậu quả ngày càng nghiêm trọng của nó, bạo hành gia đình đã và
đang bị cộng đồng và xã hội lên án, và hành vi đó phải chịu chế tài của pháp luật.
Một trong những nạn nhân chủ yếu của nạn bạo hành gia đình chính là phụ nữ và trẻ
em. Đó là những đối tượng ít có khả năng tự bảo vệ mình hơn so với nam giới.
Trong khi đó, hậu quả của bạo hành gia đình là vô cùng nặng nề cả về thể xác lẫn
tinh thần nạn nhân thậm chí dẫn đến tử vong.
Thấy được tác hại của bạo hành gia đình, các nước trên thế giới trong đó có
Việt Nam, đã ban hành những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh thực trạng này.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2008 của Việt
Nam đã góp phần điều chỉnh vấn đề này một cách cụ thể hơn. Tuy nhiên, việc áp
dụng những quy định của pháp luật trong thực tế còn xảy ra nhiều bất cập hoặc chưa
đạt hiệu quả. Nạn bạo hành gia đình vẫn diễn ra ngày càng gia tăng và gây hậu quả
nặng nề cho xã hội.
Đứng trước tình hình đó, vấn đề được đặt ra cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nhà
nước là phải nhanh chóng, kịp thời có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi tình
trạng này. Có như vậy mới phát huy hết vai trò của gia đình, tạo tiền đề vững chắc
để phát triển đất nước bền lâu. Đó cũng là lý do mà người viết chọn đề tài: “Bạo
hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bạo hành gia đình là một vấn đề nóng bỏng của xã hội hiện nay, được nhiều tác
giả quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau như: góc độ hình
sự tội phạm, quản lý nhà nước, tội phạm học, nghiên cứu về hậu quả của nó. Nhưng
vấn đề bạo hành gia đình vẫn đang tồn tại và diễn ra ngày càng gia tăng mà nạn
nhân phổ biến là phụ nữ và trẻ em, nên người viết quyết định tiếp tục nghiên cứu
vấn đề này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Người viết chọn đề tài “Bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam
hiện nay” với mục tiêu:
- Tìm hiểu khái niệm gia đình, vai trò gia đình trong xã hội. Lý do tại sao cần
xây dựng một gia đình hạnh phúc không có bạo hành.
- Tìm hiểu về vai trò người phụ nữ trong gia đình, trong xã hội; tác động tiêu
cực của hành vi bạo hành gia đình đối với họ và làm rõ hậu quả của những hành vi
đó.
- Tìm hiểu khái quát về trẻ em, vai trò của trẻ em, những tác động của hành vi
bạo hành đối với trẻ và làm rõ hậu quả của nó.
- Tìm hiểu và phân tích thế nào là bạo hành gia đình, những nguyên nhân và
hậu quả của bạo hành gia đình.
- Tìm hiểu những quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề bạo hành gia đình
từ các biện pháp phòng chống, hỗ trợ nạn nhân bạo hành gia đình đến xử lý vi phạm
hành chính, hình sự. Từ đó, người viết phân tích thấy rõ những bất cập, hạn chế
trong quy định của pháp luật.
- Tìm hiểu thực tiễn bạo hành gia đình hiện nay và thực tiễn áp dụng pháp luật
liên quan vấn đề này.
- Cuối cùng là đề xuất giải pháp nhằm góp phần hạn chế, ngăn chặn tình trạng
bạo hành gia đình và hoàn thiện các biện pháp nhằm hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo
hành gia đình.
4. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu về thế nào là bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ
em và nguyên nhân và hậu quả của tình trạng này. Những quy định của pháp luật
Việt Nam về tình trạng bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em hiện nay. Thực
trạng của vấn đề này trong xã hội hiện nay. Từ đó đề ra những giải pháp nhằm góp
phần phòng, chống bạo hành gia đình hữu hiệu hơn.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài ngày người viết chủ yếu tìm hiểu vấn đề bạo hành gia đình mà
đối tượng chính là phụ nữ và trẻ em. Nên trong khi nghiên cứu, người viết tập trung
tìm hiểu về đặc trưng của hai loại đối tượng này: những khái niệm có liên quan,
những nguyên nhân, hậu quả, cũng như là ảnh hưởng của bạo hành gia đình đối với
họ. Ngoài ra, người viết sẽ tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam xoay
quanh vấn đề phòng, chống, hỗ trợ nạn nhân và xử lý các hành vi bạo hành gia đình.
Từ đó, người viết đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về phòng
chống bạo hành gia đình.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, người viết đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận trên cơ sở tài liệu, sách vở; phương pháp
phân tích, tổng hợp nhằm rút ra những kết luận khoa học
- Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết nhằm làm sáng tỏ vấn
đề.
- Phương pháp đối chiếu một số quy định của pháp luật Việt Nam với nước
ngoài.
- Đối với phần thực tế, người viết sử dụng phương pháp sưu tầm số liệu, thống
kê, đánh giá số liệu đó, đưa ra hình ảnh minh họa và kết luận cho vấn đề cần nghiên
cứu.
7. Kết quả nghiên cứu
Đầu tiên, người viết sẽ tìm hiểu những vấn đề lý luận về bạo hành gia đình.
Nguyên nhân sâu xa và biểu hiện của nó. Tìm hiểu nguyên nhân khiến nạn nhân đa
số của đối tượng này là phụ nữ và trẻ em, cũng như hậu quả tiêu cực của nó. Tiếp
theo, người viết sẽ làm rõ những quy định của pháp luật về vấn đề trên. Lý do tại
sao nạn bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em vẫn diễn ra ngày càng gia tăng.
Cuối cùng, người viết sẽ đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm giải quyết thực trạng
này cả về trước mắt lẫn về lâu dài.
8. Bố cục đề tài
Ở đề tài này phần nội dụng chính, người viết bố cục gồm ba chương:
- Chương một: Những vấn đề lý luận chung về bạo hành gia đình. Trong
chương này người viết nghiên cứu những khái niệm liên quan đến gia đình, bạo
hành gia đình và tác động của bạo hành gia đình đến hai đối tượng chính là phụ nữ
và trẻ em.
- Chương hai: Những quy định của pháp luật về vấn đề phòng, chống bạo hành
gia đình. Trong chương này, người viết tìm hiểu gồm có ba khía cạnh chính: những
quy định liên quan đến công tác phòng ngừa bạo hành gia đình; những quy định hỗ
trợ nạn nhân bạo hành gia đình và những quy định về xử lý đối với hành vi bạo
hành gia đình. Khi phân tích từng khía cạnh, người viết cũng trình bày những bất
cập trong quy định của pháp luật.
- Chương ba: Thực trạng bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em hiện nay
và giải pháp khắc phục. Trong chương này, người viết tìm hiểu những vấn đề thực
tế tình hình bạo hành hiện nay, những bất cập trong thực tế áp dụng quy định của
pháp luật và thực tế mà luật không điều chỉnh. Từ đó, người viết đưa ra những ý
kiến đề xuất để khắc phục thực trạng trên.
- Kết luận.
Xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẠO HÀNH GIA ĐÌNH
Gia đình được xem là “tế bào của xã hội”, gia đình có hạnh phúc thì xã hội
mới phát triển bền vững, lâu dài. Thế nhưng, không phải lúc nào “ tế bào” đặc biệt
này cũng phát triển một cách bình thường, điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến các
thành viên trong gia đình nói riêng và xã hội nói chung. Một trong những dấu hiệu
của một gia đình rạn nứt nghiêm trọng, đó là các thành viên trong gia đình không
còn sự yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, thậm chí có những hành vi hành hạ, ngược
đãi nhau có thể đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, để hiểu rõ thêm
vấn đề về bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em, ở chương này, người viết sẽ
nghiên cứu những khái niệm có liên quan đến gia đình, bạo hành gia đình và phụ
nữ, trẻ em.
1.1 Khái niệm gia đình
1.1.1 Định nghĩa gia đình
Dưới sự quan tâm, bảo hộ của nhà nước, gia đình là sự gắn kết giữa nhiều người
với nhau, dựa trên các mối quan hệ như hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Các
thành viên có quyền và nghĩa vụ phải yêu thương, chăm sóc lẫn nhau về vật chất, về
tinh thần để cùng xây dựng tổ ấm hạnh phúc, nuôi dưỡng các thế hệ tiếp theo của xã
hội.
Tuỳ thuộc vào phạm vi nghiên cứu, góc độ nghiên cứu của mỗi ngành khoa học
khác nhau mà mỗi ngành có khái niệm gia đình khác nhau:
Đối với ngành xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì thế,
có thể xem gia đình như là một nhóm xã hội nhỏ. Gia đình là một thiết chế xã hội
đặc thù mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm
đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như
để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.1
Đối với triết học thì xem: “gia đình như một hình thức có tính lịch sử của tổ
chức đời sống của loài người, giữa nam giới và nữ giới”.
Đối với lĩnh vực kinh tế thì gia đình được xem là một đơn vị sản xuất và cũng là
một đơn vị tiêu dùng. Gia đình là nơi tạo ra các sản phẩm nông nghiệp, thủ công
nghiệp, từ công sức lao động của các thành viên trong gia đình. Đó là theo nghĩa cổ
điển, còn theo ý nghĩa hiện đại thì gia đình là nguồn cung ứng lao động cho xã hội.
1
Tập bài giảng Xã hội học, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb CAND, 2006, tr. 335.
Gia đình là một đơn vị tiêu dùng vì gia đình cũng có ngân sách chi tiêu, mua sắm,
thụ hưởng dịch vụ.
Đối với lĩnh vực xã hội, gia đình là “tế bào” của xã hội, là nguồn tái sản xuất
sức lao động, nơi nuôi dưỡng con người vừa lớn lên về mặt thể chất vừa trưởng
thành về nhận thức, giáo dục nhân cách con người, góp phần vào công cuộc phát
triển đất nước.
Đối với ngành luật thì theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
2000 quy định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và
quyền giữa họ với nhau” (Khoản 10, Điều 8).
Gia đình sẽ còn tồn tại mãi mãi trong đời sống xã hội, trong các cộng đồng
người. Dù cho mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực, mỗi con người có quan điểm khác
nhau về khái niệm gia đình thế nào, thì không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng
của nó trong đời sống hiện nay.
1.1.2 Vai trò của gia đình
“Gia đình là nơi ẩn náu của sự yên ổn, sự kính trọng và tình thương” (B.Ghali),
thật đúng với câu danh ngôn ấy, mỗi con người sinh ra và lớn lên trong xã hội,
không ai mà không mong muốn mình có một gia đình hạnh phúc, một tổ ấm bình
yên, một chổ dựa tinh thần vững chắc làm nền tảng phát triển toàn diện cho bản
thân.
1.1.2.1 Đối với giáo dục thế hệ trẻ
Gia đình là thiết chế xã hội có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong việc hình
thành nhân cách con người lúc còn trẻ thơ. Trong gia đình, trẻ em sẽ học hỏi tấm
gương của cha mẹ. Nếu gia đình an toàn và vững chắc, luôn chú ý đến những nhu
cầu cơ bản của con cái thì mới đảm bảo cho trẻ phát triển nhân cách tốt nhất, đồng
thời có thể kiểm soát được trẻ em khi nó có các biểu hiện sai trái: bỏ học, lêu lỏng,
nghiện hút và các tệ nạn khác.
Sống trong gia đình lành mạnh, hạnh phúc, trẻ em sẽ phát triển toàn diện và trở
thành thành viên tốt, có ích cho xã hội. Trái lại nếu gia đình không tốt, không an
toàn và vững chắc sẽ chứa đựng nhiều nhân tố tác động tiêu cực đến việc hình thành
nhân cách trẻ em. Do đó, ngoài việc chú trọng giáo dục con cái ở nhà trường, thì
mọi người còn phải chú trọng việc giáo dục trẻ em ở nhà.
1.1.2.2 Đối với công tác phòng chống tội phạm
Một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội hiện nay đó là sự thiếu
hiểu biết. Điều này bắt nguồn cũng một phần nguyên nhân từ sự giáo dục nền tảng
của gia đình như người viết đã đề cập ở trên. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, hiện
tượng người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng, hơn bao giờ hết vai trò
phòng chống tội phạm từ gia đình càng trở nên quan trọng hơn.
Theo những nghiên cứu của ngành tội phạm học, dữ liệu đã thu được: 3/5 số
thanh thiếu niên phạm tội được quan sát đều có những khiếm khuyết về giáo dục.
Trong đó, các em sống trong những gia đình có vấn đề chiếm tỷ lệ là 50,7% bao
gồm: có cha mẹ nghiện rượu là 14,3%; cha mẹ có đời sống không bình thường là
3,9%; trong gia đình luôn có bất hòa là 15,5%; cha mẹ luôn có hành động bạo lực
đối với con là 2,6%; cha mẹ đều phạm tội là 1,3% 2. Từ những số liệu minh họa trên
ta thấy, một gia đình không hạnh phúc, sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của
trẻ, dễ dẫn đến xu hướng phạm tội trong tâm lý của trẻ khi nó chưa đủ chính chắn để
đấu tranh chiến thắng bản thân. Ngoài ra, theo các nghiên cứu của các nhà tâm lý,
trẻ em sinh sống trong một gia đình thường xuyên chứng kiến các cảnh tượng bạo
hành, sẽ dẫn đến thái độ sống “ dùng vũ lực để giải quyết vấn đề”.
Không chỉ có những thanh thiếu niên phạm tội mới chịu ảnh hưởng từ gia đình.
Các tội liên quan đến bạo hành gia đình cũng một phần xuất phát từ những gia đình
không hạnh phúc, hôn nhân ép buộc thiếu tự nguyện. Nếu gia đình được xây dựng
và phát triển trên nền tảng hôn nhân tiến bộ, các thành viên biết tôn trọng, yêu
thương, chăm sóc nhau, thì chắc hẳn sẽ không bao giờ có tình trạng gia đình rạn nứt
kéo theo các hệ lụy khác.
Tóm lại, một trong những biện pháp nhằm hạn chế sự phát sinh của tội phạm, đó
là phải xây dựng một gia đình đời sống lành mạnh và hạnh phúc. Việc đó cũng
chính là chúng ta đang thực hiện việc xây dựng và phát triển đất nước bền vững lâu
dài.
1.2 Khái quát chung về người phụ nữ Việt Nam
1.2.1 Khái quát về cuộc sống người phụ nữ Việt Nam
1.2.1.1 Trong xã hội phong kiến
Khi nói đến người phụ nữ Việt Nam, điều đầu tiên mà ai trong chúng ta cũng
hình dung được đó là hình ảnh của một người vợ, người mẹ biết yêu thương gia
đình, chịu thương, chịu khó.
Thời phong kiến ngày xưa, người phụ nữ không được xem như người làm chủ
gia đình. Người phụ nữ phải chịu sự ràng buộc của lễ giáo rất khắc khe: “tam tòng”,
“tứ đức”. Tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình không được chú trọng, thậm
chí xã hội xưa còn cho rằng: “chồng chúa, vợ tôi”, người chồng có quyền “năm thê
bảy thiếp”, còn người phụ nữ thì “gái chính chuyên chỉ có một chồng”. Đó là những
2
N.Doubinine – I.Karpiets V.Koudriavtsev, Di truyền học thái độ xử sự và tội phạm học, Nxb CAND, 2003,
tr.335.
biểu hiện của sự bất bình đẳng trong giới tính, thái độ kỳ thị, “trọng nam khinh nữ”.
Do áp lực từ định kiến xã hội, người phụ nữ xưa chỉ biết cam chịu số phận, sống
nhẫn nhịn giữ đạo làm con, làm vợ, làm mẹ.
Tuy nhiên, sự ra đời của Luật Hồng Đức, năm 1483, được xem như một sự tiến
bộ của xã hội lúc bấy giờ trong việc bảo vệ người phụ nữ, vai trò của người phụ nữ
được coi trọng hơn trước.
“Tính đặc thù của “Quốc triều hình luật” thể hiện rõ trong hai chương “Hộ hôn”
và “Điền sản”. Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò
của người phụ nữ - điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm: có
53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình” 3. Những quy định này ít nhiều
đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình.
Người vợ về cơ bản sống lệ thuộc vào người chồng và phải làm hoặc không làm
một việc gì theo ý của người chồng. Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ - chồng
thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ. Cũng giống như chồng,
người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế.
Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ nam “không
có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà”; Điều 23 trong
“Quốc triều hình luật” quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng. Việc trả công
ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị
trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội.
Trong quy định của Luật Hồng Đức còn đặc biệt chú trọng quyền lợi người phụ
nữ khi đã kết hôn. Khác với người phụ nữ Trung Quốc, mặc dù đã xuất giá nhưng
luật pháp không xem đó như một sự chuyển giao hoàn toàn. Theo quy định tại Điều
322 “Quốc triều hình luật” ghi nhận: “Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể
kêu quan mà trả đồ sính lễ”, nếu “con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly
dị”. Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng. Không những
thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ ở chổ, họ được phép đến nhà đương chức
xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1
năm nếu vợ đã có con), theo Điều 308, Lê Triều hình luật.
Như vậy, trong xã hội thời phong kiến, tuy rằng những quy định của pháp luật
cũng có phần coi trọng vị trí của người phụ nữ, chú ý đến quyền lợi của họ, nhưng
suy cho cùng thì người phụ nữ vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công. Những
quyền lợi họ có được là do người khác ban cho, người phụ nữ chưa thật sự biết phản
3
Theo Tạp chí Xưa và nay, Thông tin pháp luật dân sự,
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/01/09/4308/, [truy cập ngày 14-1-2011].
kháng, đấu tranh bảo vệ mình trước sự áp bức, ràng buộc do sự phân biệt giới tính,
bất bình đẳng đối với mình.
1.2.1.2 Trong xã hội thời hiện đại
Ngày 10 tháng 10 năm 1959, tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật hôn
nhân và gia đình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nói đến phụ nữ là nói đến phân
nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.
Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” 4 .Qua đó,
Bác đã khẳng định được vị trí của người phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước
là rất quan trọng.
Cuộc Cách mạng tháng tám 1945 không chỉ đã lật đổ chế độ phong kiến và thực
dân Pháp, tiến lên xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà còn giải
phóng người phụ nữ khỏi chế độ phong kiến lạc hậu, bước đầu tiếp cận với nền văn
hóa văn minh hiện đại, nam nữ bình đẳng. Điều đó đã được quy định cụ thể trong
các bản Hiến pháp. Hiến pháp 1946, hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa, ra đời quy định tất cả công dân đều ngang quyền nhau trên tất cả
các lĩnh vực, không phân biệt gái trai đều có quyền bầu cử, đàn bà ngang quyền với
đàn ông (Điều1, Điều 6, Điều 7, Điều 9). Đến Hiến pháp 1959, nhà nước ta tiếp tục
quy định quyền bình đẳng của người phụ nữ: tất cả mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật, phụ nữ bình đẳng với nam giới về mọi mặt, được hưởng lương bằng
với nam giới,…(Điều 22, Điều 23, Điều 24). Hiến pháp 1980 quy định, mọi công
dân có quyền bình đẳng trước pháp luật, “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau
về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình” (Điều 63). Hiến pháp
1992 tiếp tục quy định về vấn đề bình đẳng của người phụ nữ, ngoài ra còn quy định
nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ
(Điều 63).
Ngoài những quy định trong Hiến pháp qua các thời kỳ, nhà nước ta còn ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ như:
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986, năm 2000; Luật bình đẳng giới
năm 2006; Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007;…và nhiều quy định khác
nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Ngày nay, người phụ nữ tham gia vào xã hội với một vị trí mới, họ có quyền
tham gia bất cứ hoạt động xã hội nào mà nam giới cũng được quyền. Họ đã trở
thành một lực lượng tiến bộ trong xã hội, chung tay xây dựng đất nước với những
đóng góp không nhỏ. Trong gia đình, người phụ nữ không còn là “nô lệ” của lễ
4
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 9, tr. 523.
giáo, gia phong, nhưng vẫn giữ được đạo đức của người làm vợ, làm mẹ trong gia
đình, nhưng giờ vợ chồng bình đẳng, quyền lợi của người vợ được pháp luật bảo vệ.
Qua đó, chúng ta thấy được sự quan tâm, chú trọng của Đảng và nhà nước ta đối
với vai trò và vị trí của người phụ nữ trong xã hội. Thế nhưng, trong công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước hiện nay, ở đâu đó, vẫn còn những tư tưởng tàn dư
phong kiến, đời sống người phụ nữ trong gia đình bị vùi dập. Những hành vi đó sẽ
phải chịu những chế tài khắc khe của pháp luật và sự phẫn nộ của dư luận xã hội.
1.2.2 Vai trò của người phụ nữ hiện nay
1.2.2.1 Vai trò người phụ nữ trong gia đình
Từ xưa đến nay, vai trò của người phụ nữ trong gia đình là không thể thiếu được.
Ảnh hưởng của phụ nữ đã tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống gia
đình và ngày càng mang tính quyết định.
Thứ nhất, phụ nữ chính là người sinh ra và nuôi dưỡng những đứa con, thế hệ
mới của xã hội. Tuy nói rằng, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái là trách nhiệm
chung của vợ chồng, thế nhưng phải thấy rõ một thực tế, đa số từ khi sinh ra và lớn
lên, những đứa trẻ hầu như được chăm sóc bởi bàn tay người mẹ. Đa số con cái
trong gia đình gần gũi người mẹ hơn, điều này ảnh hưởng đến việc hình thành nhân
cách của trẻ, đứa trẻ thường thích bắt chước người lớn, đặc biệt là người gần gũi
nhất với chúng, đó là mẹ.
Thứ hai, người phụ nữ trong gia đình là người tổ chức, sắp xếp cuộc sống trong
gia đình. Tuy việc phụ nữ tham gia các quan hệ xã hội, đi làm trong các cơ quan,
công ty, xí nghiệp,…đã trở thành một việc bình thường, nhưng không thể phủ nhận
các công việc như nội trợ, nữ công gia chánh, vẫn thuộc mảng do phụ nữ phụ trách.
Thứ ba, người phụ nữ trong gia đình là người điều hòa mối quan hệ trong gia
đình. Trong công việc, có những lúc người chồng thất bại, giảm sút ý chí và tinh
thần, thì người vợ ngoài việc chu tất công việc gia đình, phải thật sự thông cảm,
khéo léo động viên chồng và tạo mọi điều kiện để người chồng lấy lại niềm tin,
thêm nghị lực mà vượt qua sóng gió không lúc nào không tồn tại trong cuộc sống.
Đó là những biểu hiện của sự khôn ngoan, chín chắn, có bản lĩnh và có văn hóa ở
người phụ nữ để giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Tóm lại, nếu nói “gia đình là tế bào của xã hội” thì phụ nữ chính là “hạt nhân”
của “tế bào” đó.
1.2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong xã hội
Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ 11
(WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) diễn ra vào
tháng 9/2006 tại Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳng định, Ðảng, Nhà nước
và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò của phụ nữ trong phát triển và hội
nhập quốc tế.
Chủ tịch nêu rõ: “Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng. Trong cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động.
Trong thời kỳ hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật....Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng
đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: Anh hùng, bất
khuất, trung hậu, đảm đang” 5.
Bên cạnh việc giữ gìn hạnh phúc gia đình, ngày nay, phụ nữ đã trở thành một
lực lượng sản xuất quan trọng trong tất cả các lĩnh vực đời sống. Trong nền kinh tế,
phụ nữ tham gia lao động sản xuất trong nông nghiệp, công nghiệp, đóng góp thu
nhập vào nền kinh tế đất nước. Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ nắm chức vụ cao
trong bộ máy nhà nước, trong các cơ quan hành chính, quân đội, trường học, bệnh
viện….Trong lĩnh vực xã hội, phụ nữ tham gia các công tác xã hội, phong trào của
Hội liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội.
Tóm lại, trong công cuộc xây dựng đất nước, vai trò của người phụ nữ là một lực
lượng quan trọng, cần được giải phóng và phát huy thì nền kinh tế đất nước, xã hội
mới phát triển toàn diện được.
1.3 Khái quát chung về trẻ em
1.3.1 Khái niệm trẻ em
“Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan” (Hồ Chí
Minh). Lúc sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm, chú ý đến việc chăm sóc, giáo dục
thế hệ “măng non” . Thế nhưng, bên cạnh đối tượng phụ nữ, trẻ em cũng được được
xem là nạn nhân thường xuyên của thực trạng bạo hành gia đình. Trẻ em trước hết
là một con người, với những đặc điểm về thể chất, về tâm sinh lý khác nhau tùy
thuộc vào độ tuổi và sự trưởng thành. Vậy trẻ em là những ai, thì theo quy định của
mỗi quốc gia, của mỗi lĩnh vực mà người ta có quy định cụ thể mà người viết sẽ
khái quát trong mục này.
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông
qua ngày 20/11/1989, Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và là quốc gia đầu
tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước này ngày 20/2/1990. Theo quy định của Công
5
Lê Thị Thanh Trang, Trang Hậu Giang, Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển
của đất nước,
,http://www.haugiang.gov.vn/portal/data/sites/10/chuyende/phunu/phan2/vitrivaitrocuaphunutrongxuthehoinh
api.html, [ truy cập ngày 14-1-2011].
ước tại Điều 1 thì trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật
pháp quốc gia áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn.
Ở góc độ pháp lý, mỗi ngành luật có quy định khác nhau về trẻ em hoặc không
xây dựng khái niệm trẻ em, mà xây dựng các khái niệm khác có liên quan đến độ
tuổi trẻ em như: trẻ vị thành niên, người chưa thành niên, tùy theo mối quan hệ xã
hội cụ thể mà pháp luật điều chỉnh.
- Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành, các nhà làm luật không
dùng khái niệm trẻ em mà thay vào đó, sử dụng các mức tuổi khác nhau để quy định
năng lực hành vi dân sự của từng chủ thể.
Ví dụ: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi
là người chưa thành niên” (Điều 18). “Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi
xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải có người đại diện theo pháp luật đồng
ý…” (Điều 20). “Người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự” (Điều
21)
- Đối với quy định của Bộ luật lao động hiện hành, ở Điều 6 có quy định: “người
lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng”.
- Đối với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, không quy định khái niệm
về trẻ em, mà quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “Người từ đủ 16 tuổi
trở lên, chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên,
nhưng chưa đủ 16 tuổi, phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” (Điều 12, Bộ Luật hình sự 1999).
- Đối với Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, quy định: “trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Điều 1).
Trong phạm vi đề tài đang nghiên cứu, người viết xin dùng khái niệm trẻ em
theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004.
1.3.2 Đặc điểm trẻ em của trẻ bị bạo hành
Tìm hiểu về đặc điểm của trẻ em, chúng ta không thể chỉ suy xét ở một phương
diện, một góc độ mà có thể hiểu hết được. Ở mục này, người viết sẽ khái quát một
số đặc điểm vể thể chất, tinh thần và nhận thức của trẻ em đối với cuộc sống, và
những tác động tiêu cực của hành vi bạo hành gia đình đến sự phát triển của trẻ em.
1.3.2.1 Về thể chất và tinh thần
Trẻ em có thể xem là những cơ thể đang lớn. Những biểu hiện bên ngoài như
chiều cao, cân nặng của trẻ còn đang trong giai đoạn phát triển. Trẻ có phát triển
toàn diện hay không, ngoài yếu tố di truyền, thì việc chăm sóc và bảo vệ trẻ lúc này
cũng có tầm ảnh hưởng không nhỏ.
Một đứa trẻ ở giai đoạn này, rất cần được sự chăm sóc của gia đình, về ăn uống,
về rèn luyện, vui chơi, giải trí,…Những điều đó có tác động mạnh mẽ đến việc phát
triển thể chất của trẻ. Nếu đứa trẻ sống trong gia đình thường xuyên xảy ra tình
trạng bạo hành về thể chất, thì chắc chắn, thể trạng của trẻ sẽ phát triển không tốt.
Thậm chí, việc bạo hành đối với trẻ có thể dẫn đến những thương tích, thậm chí
gây thương tật cho trẻ.
Trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo lực gia đình làm tâm lí trẻ lo sợ, buồn chán
không muốn ăn uống, vận động, mọi sinh hoạt của trẻ bị ảnh hưởng. Đồng thời sự
căng thẳng tinh thần làm cho các cơ quan trên cơ thể trẻ cũng có những rối loạn
trong hoạt động như vậy cũng ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất ở trẻ.
Bất cứ những hành vi bạo hành gia đình nào cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và
tâm lý của trẻ. Theo các chuyên gia tâm lý, hành vi bạo hành trong cách cư xử của
bố mẹ cũng gây tác hại to lớn, làm tổn thương tâm thần ở trẻ em, đôi khi kéo dài
suốt cả cuộc đời.
Người lớn không thể hiểu hết nỗi khổ và khiếp sợ của con trẻ khi phải chứng
kiến cảnh bạo hành gia đình. Chúng sẽ có cảm giác rất sợ hãi và sẽ cho rằng cách
cư xử của mình chính là nguyên nhân dẫn đến bạo hành giữa bố mẹ. Điều này sẽ
ảnh hưởng không lành mạnh cho đời sống tinh thần của trẻ em trong gia đình.
Những đứa trẻ như thế đa số cũng có vấn đề ở trường học. Thay vì sống hồn nhiên,
vô tư cùng bạn bè, thì tâm trạng trẻ em sẽ rụt rè, tự ti, mặc cảm. Điều này có thể kéo
dài đến khi trưởng thành.
1.3.2.2 Về nhận thức
Con cái thường học theo tấm gương của cha mẹ, ảnh hưởng của cha mẹ đối với
trẻ là rất lớn, muốn giáo dục trẻ thì cha mẹ phải luôn là tấm gương sáng về phẩm
chất và hành vi với trẻ. Những hành vi sai trái, những hành động bạo lực hay những
lời mắng chửi thậm tệ đều có ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục trẻ. Trẻ có thể học
theo những hành vi đó của cha mẹ hoặc cha mẹ đã làm mất uy tín của mình với trẻ.
Như vậy cha mẹ sẽ không giáo dục được cho con những phẩm chất tốt khi trẻ phải
chứng kiến cảnh bạo lực từ chính cha mẹ chúng.
Ngoài việc chứng kiến bạo hành xảy ra trong gia đình, trẻ em còn là nạn nhân
trực tiếp của tình trạng này. Điều này còn có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nữa đối
với nhận thức của trẻ. Trẻ có thể trở nên lỳ lợm, suy nghĩ theo hướng rằng “dùng
bạo lực có thể giải quyết mọi vấn đề”. Một số trẻ có thể trở nên trầm cảm, ít nói, âm
thầm chịu đựng sự bạo hành, một số trẻ em còn dẫn đến khủng hoảng tâm lý, tâm
thần.
Những gia đình có bạo hành thường để lại di chứng nặng nề cho con cái của họ.
Trẻ em thường tỏ ra rất mặc cảm trước mặt mọi người, không thích giao tiếp, hoặc
không dám kết thân với người khác, thiếu tự tin trong cuộc sống, và luôn có tư
tưởng bỏ học. Nếu tình trạng bạo lực gia đình kéo dài, các em sẽ dần rơi vào trạng
thái lãnh cảm. Những trạng thái tinh thần như thế kéo theo là kết quả học tập sa sút.
1.3.3 Khái quát về Quyền trẻ em
1.3.3.1 Những quy định của pháp luật về quyền trẻ em
Trẻ em vốn dĩ hồn nhiên, ngây thơ, tuổi thơ các em đáng lẽ phải được chăm sóc,
yêu thương của gia đình và xã hội. Thế nhưng, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề bạo
hành trẻ em diễn ra ngày càng nghiêm trọng hơn. Nhằm bảo vệ quyền lợi các em,
thế hệ tương lai của đất nước, nhiều văn bản quy định về quyền trẻ em đã được ra
đời, không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn là phạm vi quốc tế.
Trước khi Liên hợp quốc được thành lập, các quốc gia đã thông qua Tuyên ngôn
Giơnevơ 1924 về quyền trẻ em khẳng định trẻ em cần được chăm sóc đặc biệt. Tiếp
đó, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “Tôn trọng nhân quyền và
những quyền tự do cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn
ngữ hoặc tôn giáo”. Tuyên ngôn về các quyền của trẻ em do Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua năm 1959 khẳng định: “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em
điều tốt đẹp nhất”. Điều 24 Công ước về các quyền chính trị - dân sự năm 1966
(Việt Nam gia nhập năm 1982) nêu rõ: “Mọi trẻ em… đều có quyền được hưởng sự
bảo hộ của gia đình, xã hội và nhà nước”. Điều 10 Công ước về các quyền kinh tế -
xã hội và văn hoá năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy định: “Thanh thiếu
niên cần được bảo vệ và không bị bóc lột về kinh tế - xã hội, cấm bóc lột lao động
trẻ em”.
Những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em có thể kể đến:
- Bốn bản Hiến pháp của nước ta quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân
cụ thể là trẻ em thay đổi qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước. Hiến pháp 1946
đã quy định: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều 14). Cùng với sự
nghiệp phát triển đất nước, đến Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền
lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 24). Kế thừa các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp
1980: “Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi
đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm cho sinh hoạt, học tập và
trưởng thành của trẻ em được bảo đảm” (Điều 65). Hiến pháp 1992: “Trẻ em được
gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (Điều 65).
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quyền trẻ em: Luật hôn
nhân gia đình 2000; Bộ luật lao động, Luật phòng chống bạo lực gia đình 2008;
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004…và nằm rải rác trong các văn bản
dưới luật khác.
Qua đó, chúng ta nhận thấy rằng, quyền trẻ em đã trở thành một vấn đề rất được
sự quan tâm của nhà nước, của xã hội, và cả thế giới. Bởi thế, việc bảo vệ quyền lợi
cho trẻ em hiện là một vấn đề cấp bách hiện nay, khi vấn nạn bạo hành gia đình đối
với trẻ em ngày càng gia tăng.
1.3.3.2 Tìm hiểu về quyền trẻ em
Có thể nói văn bản quan trọng quy định về quyền trẻ em mà phải nhắc đến đó là
Công ước về quyền trẻ em 1989. Trong Công ước quy định: gồm 54 điều khoản
trong đó nêu bật bốn nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt toàn bộ Công
ước bao gồm 6:
- Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện tất cả các quyền trẻ em.
- Trẻ em có quyền xác lập, thể hiện ý kiến riêng của mình và quyền đó phải
được tôn trọng.
- Dành những lợi ích đẹp nhất cho trẻ em.
- Những điều khoản trong Luật Quốc gia hoặc quốc tế có lợi hơn đối với trẻ em
so với những điều khoản trong Công ước sẽ được áp dụng.
Trên cơ sở 4 nguyên tắc cơ bản trên, sự điều chỉnh của Công ước đối với bảo vệ
quyền trẻ em bao gồm các quyền sau:
- Quyền được sống: bao gồm quyền của trẻ em được sống và được đáp ứng
những nhu cầu để tồn tại, như: mức sống đủ, có nơi ở, dinh dưỡng và chăm sóc sức
khoẻ.
- Quyền được phát triển: gồm những thứ trẻ em cần có để phát triển đầy đủ nhất
như quyền giáo dục, vui chơi, các hoạt động văn hóa, tiếp cận thông tin...
- Quyền được bảo vệ: đòi hỏi trẻ em phải được bảo vệ, chống tất cả các hình
thức lạm dụng, sao nhãng và bóc lột.
- Quyền được tham gia: cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực trong cộng
đồng và đất nước của các em, gồm sự tự do diễn đạt, bày tỏ quan điểm.
Như vậy, việc tham gia Công ước về Quyền trẻ em đã góp phần quan trọng vào
sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia về quyền trẻ em. Sự điều chỉnh của Công ước
cùng với sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đã tạo nên một khung pháp luật về trẻ
em tương đối hoàn thiện và trên phương diện rộng.
6
Đinh Hạnh Nga, Đại học quốc gia Hà Nội, Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam hiện hành,
http://www.vnu.edu.vn/en/contents/index.php?ID=862#bai7, [ truy cập ngày 13-1-2011].
Theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, ở Chương 2,
quy định về các quyền cơ bản của trẻ em: quyền của trẻ em được quy định từ Điều
11 đến Điều 20 (10 điều), có thể khái quát gồm các nhóm quyền:
- Quyền được sống: quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 12); quyền được
chăm sóc sức khỏe (Điều 15).
- Quyền được tôn trọng: quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng thân thể, nhân
phẩm và danh dự (Điều 14).
- Quyền được phát triển: quyền được học tập (Điều 16); quyền vui chơi, giải trí,
hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch (Điều 17); quyền được phát triển
năng khiếu (Điều 18).
- Quyền được tham gia: quyền tiếp cận thông tin, bày tỏ quan điểm, ý kiến và
tham gia hoạt động xã hội (Điều 20).
- Các quyền khác: quyền có tài sản (Điều 19); quyền được sống chung với cha
mẹ (Điều 13).
Tóm lại, trẻ em được xem là thế giới ngày mai, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
thế hệ tương lai là điều vô cùng quan trọng đối với mỗi một quốc gia muốn phát
triển. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em không chỉ dừng lại ở chăm sóc về mặc
sinh học, ăn uống, học tập vui chơi đầy đủ, mà còn là sự quan tâm chăm sóc yêu
thương tình cảm từ phía cha mẹ, người thân. Giáo dục không chỉ là những kiến thức
phổ thông, khoa học từ sách vở, mà còn là sự giáo dục đạo đức, nhân cách từ cha
mẹ, bậc dưỡng dục. Trẻ em có được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tốt thì nền tảng hình
thành nhân cách của chúng mới vững chắc, khi lớn lên mới trở thành những người
có ích cho xã hội, cho đất nước.
1.4 Khái quát chung về bạo hành gia đình
1.4.1 Khái niệm bạo hành gia đình
Một trong những vấn nạn báo động hiện nay đó là nạn bạo hành gia đình. Nó đã
và đang diễn ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng, trong khi những chế tài của
pháp luật đối với thực trạng này còn hạn chế. Trong mục này, người viết sẽ tập
trung làm rõ thế nào là bạo hành gia đình.
Tùy theo từng lĩnh vực khoa học mà người ta có khái niệm khác nhau về bạo
hành, có thể liệt kê những khái niệm cụ thể như sau:
- Bạo hành gia đình dưới góc độ nhìn nhận của xã hội: “Bạo hành gia đình là tất
cả những hành vi, thái độ, cử chỉ, lời nói…làm người khác tổn thương về thể xác
cũng như tinh thần trong cuộc sống riêng tư hay nơi công cộng”.