Báo cáo xem xét quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp

  • 28 trang
  • file .pdf
5
9
Lời nói đầu
Đất có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên
thiên nhiên có vai trò vô cùng to lớn. Nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động. Là tư liệu sản
xuất đặc biệt không thể thay thế được, không thể thiếu đối với các ngành sản xuất xã hội và đời sống con người.
Việt Nam chúng ta là một nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp, gắn liền với nền văn minh lúa nước. Người
dân chúng ta vẫn sinh sống chủ yếu bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp. Và ngay cả hiện tại, khi đất nước đang
trên đà phát triển, đang trong quá trình CNH-HĐH thì ngành sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong
GDP, với một lượng lớn lao động (khoảng 70% lực lượng lao động) hoạt động trong lĩnh vực này.
Vì lý do này mà trong những năm gần đây, việc quản lý của nhà nước với đất nông nghiệp cũng thay đổi nhiều để
theo kịp, phù hợp với sự thay đổi cơ cấu đất đai thay đổi rất nhanh chóng ở các địa phương. Đất đai dành cho sản
xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp – thay vào đó là đất đai dành cho sản xuất phi nông nghiệp tăng nhanh. Đây
là một xu hướng biến động phù hợp với quy luật của sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên các vấn đề đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia, ổn định đời sống của người dân và hạn chế những trường hợp vi phạm đất đai (nhất là
những vi phạm về việc tự ý chuyển nhượng, chuyển đổi, sử dụng đất sai mục đích…) thì việc quản lý đất nông
nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả, bền vững đang được đặt ra.
Chính vì vậy nên việc “ Xem xét quản lý nhà nước với đất nông nghiệp hiện nay” đang là vấn đề rất cần quan tâm.
6
0
1. Đất nông nghiệp
Căn cứ vào Luật Đất đai năm 1993 và luật sửa đổi bổ xung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và 2001 thì
đất đai của nước ta được chia ra làm 5 loại cơ bản là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng và đất
chưa sử dụng. Và từ đó đất nông nghiệp được hiểu là đất sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp của
các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hay để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.
Tuy nhiên với cách hiểu và cách chia như thế này đã dẫn đến một số khó khăn trong quản lý. Bởi việc phân
chia đất đai vừa theo mục đích sử dụng vừa theo địa bàn này đã dẫn đến những sự trùng lặp, chồng chéo từ hai cách
thức quản lý.
Từ những sự mâu thuẫn và bất cập này mà Luật Đất đai năm 2003 đã ra đời để đáp ứng cho yêu cầu quản lý vĩ
mô của Nhà nước về đất đai. Và theo luật đất đai năm 2003 thì đất đai của nước ta được chia ra làm ba nhóm là:
nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng, trong đó nhóm đất nông nghiệp bao
gồm đất lâm nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản. Ta nhận thấy cách phân chia này đã thay đổi
rất nhiều so với luật cũ, nó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quản lý Nhà nước về đất đai.
6
1
Như vậy, so với cách chia cũ thì đất nông nghiệp sẽ bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản
(theo luật đất đai năm 2003) và không có đất vườn tạp.
2. Đặc điểm và vai trò của đất nông nghiệp
2.1. Đặc điểm của đất nông nghiệp
Đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau:
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động
Đất đai đồng thời là tư liệu lao động và đối tượng lao động
Đất đai bị giới hạn về mặt không gian và có vị trí cố định
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể tự sản sinh, có chất lượng không đều, khả năng sản xuất là vô hạn
2.2. Vai trò của đất nông nghiệp
Vai trò của đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng to lớn. Nó không những đóng góp vai trò
là điểm tựa trong các ngành sản xuất, là cơ sở cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trồng trong sản xuất nông nghiệp mà
6
2
còn là một trong những thành phần đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước, tạo nguồn vốn giúp các cá nhân, tổ
chức đầu tư sản xuất.
3. Khái niệm về quản lý và nội dung quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp
3.1. Khái niệm về quản lý và sự cần thiết phải quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn
huyện Hoài Đức
Quản lý Nhà nước về đất đai là quá trình tác động bằng các cơ chế chính sách của các cấp chính quyền, các sở
ban ngành ở địa phương vào các hoạt động khai thác sử dụng đất đai nhằm khai thác và sử dụng đất một
3.2. Nội dung quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp
Theo Luật Đất đai năm 2003, có 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định cụ thể tại điều 6. Tuy
nhiên những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng tại cấp huyện (cụ thể tại
huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây) thì cơ bản như sau:
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính.
- Lập, triển khai và giám sát việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất .
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng dất.
- Đăng ký quyền sử dụng đất , lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
6
3
- Thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp-đơn thư khiếu nại , tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất
đai.
Phần II
Thực trạng quản lý Nhà nước
đối với đất nông nghiệphiện nay
Đất phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp trên các địa phương đang giảm một cách rõ rệt. Theo hiện trạng sử
dụng đất năm 2004( của huyện Hoài Đức) thì đất nông nghiệp tiếp tục giảm, còn 5846.73ha (giảm 52.15ha so với
năm 2003); theo kế hoạch sử dụng đất năm 2005 thì đất nông nghiệp phải thu hồi tiếp 765.31ha (trong đó đất ruộng
lúa, lúa màu thu hồi 714.25ha) và tính đến quy hoạch sử dụng đất năm 2010, đất nông nghiệp giảm xuống chỉ còn
4252.4ha (giảm so với năm 2001 là 1720.03ha).
Sở dĩ đất nông nghiệp của Hoài Đức giảm nhanh đến như vậy là do điều kiện tự nhiên , kinh tế xã hội thuận lợi
của Hoài Đức đã tạo ra một lợi thế rất lớn trong việc phát triển kinh tế .Đáp ứng cho yêu cầu CNH-HĐH và phát
triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá của đất nước, cùng với xu thế phát triển hội nhập của đất nước. Hoài Đức đã
dần thay đổi bộ mặt nông thôn, cơ cấu ngành nghề thay đổi, kéo theo cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu lao động thay đổi,
6
4
đời sống nhân dân được cải thiện. Đất nông nghiệp đang giảm , thay vào đó là sự tăng lên của những đất đai sử dụng
vào mục đích phi nông nghiệp , mà điển hình là phục vụ cho các mục đích như xây dựng các khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao , đường sá và các trung tâm thương mại dịch vụ .
Với những lý do này, nắm bắt được sự thay đổi rõ rệt của quỹ đất nông nghiệp , đặc thù của lao động vẫn chủ
yếu là nông nghiệp nên để đảm bảo thu nhập của người dân, UBND huyện Hoài Đức đã có hướng chuyển đổi cơ cấu
cây trồng vật nuôi thích hợp nhằm ổn định đời sống nhân dân.
Biến động của đất nông nghiệp có một số xu hướng chính sau:
Quỹ đất nông nghiệp đang ngày càng giảm cả về số lượng và chất lượng.
Đất nông nghiệp đang được tập trung hoá hơn do nhiều người đã có những ngành nghề phụ đảm bảo thu
nhập.
Đất nông nghiệp đang có xu hướng chuyển từ đất trồng lúa sang đất trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản
3. Thực trạng quản lý đất nông nghiệp ở Hoài Đức hiện nay
Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính
6
5
Đối với đất nông nghiệp, công tác này không được đầu tư nhiều. Hàng năm quỹ đất nông nghiệp có luôn giảm
xuống nhưng việc chỉnh lý trên bản đồ cũng chưa được làm thường xuyên. Loại bản đồ hiện nay các xã thị trấn trong
huyện sử dụng để quản lý đất nông nghiệp là bản đồ địa chính cũ từ những năm 1986, ở một số xã hiện vẫn còn chưa
có bản đồ để quản lý loại đất này ở một số xứ đồng. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp
Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất là những công cụ quản lý của Nhà nước về đất đai. Nó là một bộ phận của quy
hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Việc phát huy hiệu quả của công cụ này sẽ góp phần tích cực trong quản lý
đất đai và cùng hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tại huyện Hoài Đức, quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất đã phát huy được vai trò tích cực của nó. Đã phần nào đưa đất đai vào quỹ đạo của sự ổn định, tác
động tích cực tới việc thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thay đổi cơ cấu lao động nông thôn và dần dần thay đổi cơ
cấu ngành, thay đổi diên mạo nông thôn.
Tuy nhiên những quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của huyện cũng có một số mặt hạn chế của nó. Trước hết việc
lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chưa được điều tra khảo sát kỹ càng, chưa được lấy ý kiến của dân, chưa phản
ánh nhu cầu sử dụng đất của các thành phần kinh tế cho sự phát triển kinh tế xã hội. Những thông tin này chủ yếu
trên cơ sở giấy tờ, thiếu tính thực tế. Do vậy những quy hoạch kế hoạch sử dụng đất này phần nhiều mang tính chủ
quan của một bộ phận cán bộ chuyên môn, chưa phản ánh được nhu cầu sử dụng đất để đáp ứng cho yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội.
6
6
Việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất thiếu tính trách nhiệm, các cán bộ địa chính cấp huyện không thường
xuyên đôn đốc, kiểm tra cấp dưới thực hiện, nên kết quả đạt không cao.
Việc giao đất, cho thuê đất là việc thực hiện quyền của người sử dụng đất đồng thời đảm bảo quyền đại diện sở
hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước. Cùng với công tác này là hoạt động thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất
để nhằm thực hiện khai thác và quản lý sử dụng đất theo hướng tích cực , đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế
xã hội.
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hố sơ địa chính, cấp GCN quyền sử dụng đất
Chúng ta biết rằng đất nông nghiệp đã được giao toàn bộ cho các hộ gia đình, các nhân và các tổ chức quản lý
sử dụng. Do vậy hệ thống thông tin về hồ sơ địa chính là tương đối đầy đủ. Duy chỉ có hệ thống bản đồ địa chính là
còn thiếu và không thường xuyên cập nhật cho nên việc quản lý hồ sơ địa chính cũng gặp một số những khó khăn.
Mặt khác, đất nông nghiệp còn có nhiều biến động, trong đó có những biến động ngầm mà cơ quan Nhà nước không
thể biết được cho nên không đảm bảo sự đầy đủ về thông tin trong quản lý. Do vậy việc cấp GCN quyền sử dụng đất
nông nghiệp cũng có phần hạn chế
Tình hình cấp GCN vẫn còn chậm, chưa thực sự ưu tiên cho công tác này, chưa coi đây là biện pháp để tạo
thuận lợi trong quản lý sử dụng đất, hạn chế những tranh chấp và là căn cứ xác thực để thực hiện quyền lợi và nghĩa
vụ của người sử dụng đất. Đồng thời khuyến khích người dân sử dụng đất có hiệu quả.
6
7
Hiện tại, công tác này đang được đẩy nhanh để phấn đấu thực hiện tốt nghị quyết của HĐND huyện khoá 17, kỳ
họp thứ 3 về việc tăng cường cấp GCN quyền sử dụng đất năm 2005, quán triệt tinh thần của Thông tư số
28/2004/TT-BTNMT, Luật Đất đai năm 2003.
Thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
Công tác thống kê, kiểm kê được thực hiện thường xuyên theo luật định. Công tác này đã đạt được những kết
quả nhất định và góp phần vào sự nắm bắt những thay đổi quỹ đất và hiện trạng sử dụng đất. Từ đó làm căn cứ để
lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất và phân bổ quỹ đất cho những nhu cầu nhất định của sự phát triển kinh tế xã hội.
Đảng uỷ, UBND huyện, thường trực Huyện uỷ Hoài Đức luôn coi những nhiệm vụ này là trọng tâm của việc
đảm bảo ổn định về mặt đất đai và về chính trị xã hội. Do vậy UBND huyện luôn chỉ đạo thực hiện triệt để những
quyết định của cấp trên trong lĩnh vực này. Đồng thời khi nhận thấy có những biến cố trong vi phạm pháp luật đất
đai , UBND trực tiếp chỉ đạo kịp thời, nhanh chóng, giải quyết triệt để , đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.
6
2
Phần lớn những trường hợp vi phạm đều đã được xử lý. Các trường hợp
trường hợp chuyển nhượng trái phép được xem xét và giải quyết bằng hình
thức hợp pháp hoá. Còn những đối tượng lấn chiếm có tranh chấp được giải
quyết tại Toà án nhân dân huyện.
Tuy nhiên, việc thực hiện những công tác, nhiệmvụ này vẫn còn một số
hạn chế như: Việc thanh tra, kiểm tra vẫn còn để sót một số đối tượng vi
phạm; một số đơn thư còn chưa được giải quyết thoả đáng, không đảm bảo
đúng thời hạn đã để mất lòng tin ở một bộ phận nhỏ dân cư đối với chính
quyền; vẫn còn tình trạng giải quyết không hết đơn thư, để tồn đọng; xử lý
chưa nghiêm những đối tựơng vi phạm, còn để hiện tượng tái phạm.
4. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế trong quản lý đất đai trên địa bàn chủ yếu bắt nguốn từ
những nguyên nhân sau:
Hệ thống pháp luật về đất đai của chúng ta còn nhiều bất cập, chồng
chéo, một vấn đề nhiều khi được quy định rất khác nhau tại những văn bản
pháp quy khác nhau
Việc phân cấp thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất
đai trong huyện còn chưa hợp lý, chồng chéo về thẩm quyền và chức năng
giữa phòng Tài nguyên và môi trường và phòng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn trong việc quản lý, khai thác, sử dụng đất nông nghiệp
Như vậy đây là sự chồng chéo trong thẩm quyền và chức năng quản lý
đã ảnh hưởng không nhỏ đến những hạn chế trong quản lý Nhà nước về đất
nông nghiệp.
6
3
Mặt khác việc quản lý đất đai từ cấp huyện đến cấp xã cũng không
được chặt chẽ. Cấp huyện chỉ nắm được thông tin từ các xã, thị trấn thông
qua việc báo cáo của cán bộ địa chính cấp xã. Trong khi đó cán bộ địa chính
cấp xã lại chỉ thực hiện nhiệm vụ hay báo cáo khi có sự yêu cầu và giao
nhiệm vụ của cấp trên.
-Đội ngũ cán bộ địa chính huyện, xã thị trấn vừa thiếu lại vừa có trình
độ chuyên môn hạn chế.
Trình độ dân trí, khả năng tiếp cận và hiểu biết về luật đất đai của
người dân còn có nhiều hạn chế. Nhiều trường hợp hộ gia đình, cá nhân có
vi phạm pháp luật về đất đai nhưng lại không biết là vi phạm và vi phạm ở
chỗ nào. Nhiều trường hợp còn đi kiện tụng không đúng nơi, đúng chỗ và sai
luật.
Ngoài ra hệ thống bản đồ gốc mà các xã , thị trấn trong huyện hiện vẫn
sử dụng là những bản đồ cũ.
Nguồn kinh phí cho lập quy hoạch kế hoạch, thống kê kiểm kê đất đai ,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn hạn chế và chậm nên đã ảnh
hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện công việc.
5.Đánh giá chung tình hình quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp
Việc khảo sát, đo đạc lập bản đồ địa chính kết hợp với công tác đăng ký
quyền sử dụng đất, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính đẫ xây dựng một hệ thống
thông tin về đất đai tương đối đầy đủ.Công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng
đất đang tính toán và phân bổ quỹ đất cho từng mục đích sử dụng ổn định,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.Từ đó giúp đất đai được khai thác
sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả hơn và bền vững hơn.
6
4
Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp khiếu nại tố cáo
những vi phạm đất đai đang góp phần thay đổi cách thức suy nghĩ của người
nông dân vì ý nghĩ của việc khai thác sử dụng đất đai theo pháp luật. Đồng
thời nó cũng đang nâng cao hiệu quả của quản lý, tránh những sai phạm
trong quản lý và sử dụng để đất đai phát huy được vai trò là nguồn tài
nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt.
Từ những điều này nó đã làm thay đổi cơ cấu lao động nông thôn và
tiếp tục thay đổi cơ cấu ngành theo hướng tích cực, tác động tới cơ cấu kinh
tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp . Mặc dù cách thức
quản lý đất nông nghiệp của của nhà nước vẫn còn một số hạn chế nhất định.
Phần III
Các giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp
a. Tiếp tục thực hiện và tăng cường hiệu quả của các công cụ (nội
dung) quản lý.
Các văn bản pháp luật về đất đai được Nhà nước ban hành đều là một
sự nghiêm túc để nhằm quản lý đất đai một cách chặt chẽ, khai thác hiệu
quả, bền vững. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc tổ chức thực hiện
những văn bản pháp luật này và việc sử dụng các công cụ quản lý ra ngoài
thực tế lại mang tính hình thức, làm sai lệch đi ý nghĩa pháp lý của những
văn bản pháp quy. Vì vậy để thực hiện tốt các nội dung quản lý Nhà nước về
đất đai thì trước tiên ta phải thay đổi lại nhận thức của cả một bộ phận cán
bộ và người dân về những văn bản pháp luật. Pháp luật về đất đai là những
chế tài cụ thể quy định về các quản lý, khai thác sử dụng đất đai nhằm đưa
đất đai vào quỹ đạo của sự vận động có tổ chức chứ không phải là để hạn
chế quyền sử dụng của người dân hay để làm thiệt hại lợi ích của một cá
nhân tổ chức nào. Đồng thời ta phải xác định ngay từ đầu việc không thể
6
5
buông lỏng quản lý, không thể để đất đai được sử dụng một cách tuỳ tiện, tự
phát bằng cách nâng cao hiệu quả của các công cụ quản lý.
Đối với công tác lập, triển khai và giám sát việc thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng sử dụng đất.
- Hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống lập quy hoạch từ việc điều tra, khảo sát
lấy ý kiến của người dân tới việc công bố, điều chỉnh và tổ chức thực hiện
quy hoạch, kế hoạch sử dụng.
- Cần thay đổi lại lối tư duy, suy nghĩ của người dân và một số bộ phận
cán bộ (nhất là cấp xã) về vai trò và tầm quan trọng của quy hoạch, kế hoạch
sử dụng sử dụng đất. Chính từ điều này mà dẫn đến những bản quy hoạch,
kế hoạch sử dụng sử dụng đất đai của cấp xã thường thiếu thực tế, không
đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội. Còn đối với người dân,
thường không quan tâm tới quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, nhất là công
việc sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp. Họ nghĩ rằng việc họ sử dụng
đất nông nghiệp vào việc trồng lúa hay một loại cây nào khác là lẽ đương
nhiên mà họ không nghĩ tới rằng đất đó có thể bị thu hồi hay có được quy
hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng hay không. Cho nên những trường hợp
vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng sử dụng đất đai là rất nhiều trong sản
xuất nông nghiệp.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một bộ phận của quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho nên việc đảm bảo sự phù hợp của quy
hoạch, kế hoạch sử dụng sử dụng đất đai với quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội là một sự cần thiết. Nhằm tránh tình trạng phải thay đổi quy
hoạch, kế hoạch chỉ vì lý do không đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội, đồng thời quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai của huyện, xã phải phù
hợp với quy hoạch kế hoạch đất đai của tỉnh cũng nhằm để tránh việc phải
6
6
điều chỉnh bổ sung hay điều chỉnh lại làm mất ổn định về đất đai cũng như
đời sống của người dân.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng sử dụng đất phải phản ánh được nhu
cầu, nguyện vọng của người dân thông qua việc lấy ý kiến. Đây là việc cần
làm vì từ trước tới nay hầu như không thông qua ý kiến của người dân và
điều này cũng được quy định cụ thể trong Luật Đất đai 2003 tại khoản 5 điều
25 và trong Nghị định 181 tại điều 18.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng sử dụng đất phải được công bố công
khai không những chỉ tại những trụ sở cơ quan, UBND các xã, thị trấn mà
còn phải trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương để tránh
tình trạng người dân không nắm được quy hoạch, kế hoạch rồi khi vi phạm
lại thoái thác trách nhiệm.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng sử dụng đất đai phải được cụ thể hoá
thành bản đồ, khoanh định rõ ràng, cụ thể từng khu đất quy hoạch cho các
mục đích nhất định. Khi có sự điều chỉnh về quy hoạch, kế hoạch cần phải
được công bố công khai và giải trình cụ thể
- Đồng thời gắn quyền lợi và trách nhiệm của người lập, tổ chức thực
hiện với chính bản quy hoạch, kế hoạch để quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đạt hiệu quả cao. Và phải hiểu được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là văn
bản pháp lý và yêu cầu mọi đối tượng phải tuân theo.
Đối với công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa
chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cần được thực hiện một cách thường xuyên liên tục để đảm bảo cập
nhật thông tin, hình thành hệ thống thông tin đầy đủ phục vụ cấp giấy chứng
nhận một cách nhanh chóng. Sau mỗi quyết định giao đất, cho thuê đất, thu
hồi và chuyển mục đích sử dụng cần phải được chỉnh lý biến động ngay vào
hồ sơ địa chính.
6
7
- Cán bộ cấp huyện phải thường xuyên kiểm tra việc chỉnh lý, quản lý
hồ sơ địa chính của cấp xã để kịp thời phát hiện những sai sót và chỉnh lý,
đồng thời tăng cường chuyên môn cho cấp dưới.
- Việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính cần phải được gắn liền với
việc xây dựng bản đồ địa chính.
Đối với công tác thống kê, kiểm kê và lập bản đồ hiện trạng sử dụng
đất
Thống kê kiểm kê đất đai là công cụ để Nhà nước nắm một cách đầy đủ
quỹ đất và sự biến động của nó. Để tăng cường công tác này, đối với cấp
huyện cần làm:
- Nâng cao năng lực trình độ cho cán bộ cấp xã để có thể thống kê,
kiểm kê diện tích đất đai một cách chính xác về diện tích và loại đất.
- Thường xuyên tổ chức tập huấn và kiểm tra công tác của cán bộ cấp
xã nhằm kịp thời phát hiện những sai sót và xử lý.
Đối với công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp - đơn thư
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Xác định đối tượng thanh tra, kiểm tra tại cấp huyện, xã là công tác
giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng đất
có đúng mục đích, đúng loại đất và có đúng thẩm quyền hay không.
- Quyết tâm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo một cách dứt điểm,
tránh để dây dưa, theo một trình tự nhất định của trình tự khiếu nại tố cáo,
đảm bảo về thời gian và tránh để tồn đọng hay giải quyết không thoả đáng
để vượt cấp. Đồng thời các vụ tranh chấp cần khuyến khích chính quyền địa
phương bằng phương pháp hoà giải ngay tại cấp xã. Trường hợp nào không
thể giải quyết được thì mới chuyển lên cấp huyện. Đối với huyện, những vụ
việc phức tạp, vượt thẩm quyền phải báo cáo xin ý kiến giải quyết.
6
8
- Chỉ đạo và quyết tâm thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc
quản lý sử dụng đất và xử lý triệt để những vi phạm theo Quyết định
273/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm tra công tác quản
lý sử dụng đất và theo Quyết định 1966-QĐ/UB của UBND Tỉnh Hà
Tây trong việc kiểm tra thống kê và lập hồ sơ xử lý vi phạm.
- Thực hiện công khai, dân chủ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải trực tiếp đối thoại với người khiếu
nại, người bị khiếu nại và những người có quyền lợi, lợi ích liên quan. Đồng
thời khi có kết qủa, cần phải được công bố công khai.
- Gắn việc chỉ đạo giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai với việc tăng
cường công tác kiểm tra, thanh tra trong quản lý và sử dụng đất đai, kịp thời
phát hiện, xử lý vi phạm để góp phần ngăn ngừa những phát sinh từ các vụ
việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.
b. Tiến hành cải cách hành chính theo hướng tinh giảm bộ máy,
hiệu quả và giảm bớt các thủ tục.
Cải cách hành chính là sự cần thiết đối với mọi xã hội, mọi lĩnh vực
trong đời sống xã hội để đảm bảo phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.
Trong lĩnh vực đất đai, đối với cấp huyện việc cải cách hành chính cũng là
một sự cần thiết để đảm bảo đất đai được quản lý và khai thác sử dụng hợp
lý, hiệu quả từ cấp cơ sở. Trước hết cần:
- Sắp xếp lại và phân công phân nhiệm rõ ràng đối với từng cán bộ
quản lý đất đai ở cấp huyện và cấp xã. Điều chỉnh lại bộ máy quản lý thống
nhất từ trên xuống dưới và phù hợp với cấp tỉnh, trung ương. Tạo một sự
thuận lợi cho việc ra quyết định, tiếp nhận thông tin trong quản lý đất đai từ
cấp trên xuống và ngược lại.
- Đối với cấp huyện, các công việc như giao đất, cho thuê đất, chuyển
mục đích sử dụng và thu hồi đất là những công việc chủ yếu và với các thủ
6
9
tục hành chính như hiện nay thì mất rất nhiều thời gian để từ khi có nguyện
vọng sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đến khi có quyết định tới người
sử dụng đất. Đối với đất sản xuất nông nghiệp thì tính phức tạp so với đất
phi nông nghiệp trong quy hoạch đất đai là ít hơn. Cho nên các thủ tục này ta
có thể giảm gọn nhẹ bớt cho hiệu quả hơn đối với đất nông nghiệp.
- Tăng cường vai trò, quyền hạn và trách nhiệm đối với chính quyền
cấp xã trong việc quản lý đất đai để giảm bớt những thủ tục không cần thiết
trong quản lý, chia sẻ gánh nặng với cơ quan quản lý địa chính cấp huyện
đồng thời giảm đi sự phiền hà đối với người dân mỗi khi có vấn đề gì liên
quan đến đất đai không nhất thiết phải đến cơ quan cấp huyện.
- Thường xuyên phối hợp với thanh tra liên ngành, thanh tra tỉnh tổ
chức thanh tra kiểm tra trong lĩnh vực quản lý đất đai để kịp thời phát hiện
những sai sót, điều chỉnh và sửa chữa đảm bảo đúng những nguyên tắc trong
quản lý đất đai.
c. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp của
chính quyền cấp xã
- Tạo điều kiện để cán bộ địa chính cấp xã có điều kiện tự nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân để có thể đáp ứng yêu cầu cần
thiết trong quản lý hiện tại và lâu dài.
- Xây dựng một hệ thống thông tin về đất đai đầy đủ, chính xác và luôn
được cập nhật ngay tại cấp xã như các cơ sở dữ liệu địa chính, các tài liệu,
bản đồ, hồ sơ về đất đai…. phục vụ kịp thời, đầy đủ và chính xác cho yêu
cầu quản lý của địa phương và cấp trên.
- Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan có liên quan
thường xuyên kiểm tra đôn đốc chính quyền cơ sở trong việc quản lý đất đai,
kịp thời phát hiện, sửa chữa rút kinh nghiệm cho cán bộ cấp xã để tăng
cường hiệu quả trong quản lý đất đai.
7
0
- Cần có những chính sách cụ thể để đảm bảo quyền lợi của những
người trực tiếp sản xuất nông nghiệp đồng thời khuyến khích họ chuyển đổi,
thực hiện chủ trương "dồn điền, đổi thửa", chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu
tư sản xuất lớn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo công ăn việc làm
cho nông dân và thay đổi cơ cấu lao động, mức sống của người dân. Thông
qua việc hình thành những trang trại, khu vực chuyên canh, nông nghiệp
sinh thái…
- Để đảm bảo ổn định đời sống thu nhập cho nông dân, các xã, thị trấn
cần tổ chức rà soát lại các hộ sử dụng đất nông nghiệp để kịp thời phát hiện
những hộ có sai phạm và xử lý. Đồng thời với những hộ thiếu đất hoặc
không có đất để sản xuất nông nghiệp (ở Hoài Đức những trường hợp này
không có nhiều) cũng sẽ có những biện pháp giải quyết phù hợp.
- Với những hộ thiếu đất có thể thuê thêm đất của những hộ không có
nhu cầu sản xuất hoặc thực hiện chuyển đổi nghề nghiệp dựa vào sự giúp đỡ
của các cơ quan chức năng. Còn với những hộ không có đất sản xuất sẽ được
Nhà nước hỗ trợ mua lại đất nếu có nhu cầu sản xuất hoặc giúp chuyển đổi
nghề nghiệp nếu không biết sản xuất nông nghiệp. Đồng thời có thể hỗ trợ
về vốn ban đầu cho sản xuất.
- Cần xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
hoặc việc kiểm kê đất đai và thống kê đất đai hàng năm. Đồng thời nghiêm
túc thực hiện những sự chỉ đạo, kế hoạch trong công tác quản lý của cấp
trên.
3. Các giải pháp hỗ trợ
Để đáp ứng được yêu cầu của quản lý nhà nước về đất đai nhằm thực
hiện tốt những phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, ngoài những
biện pháp mang tính trực tiếp, mạnh mẽ, tăng cường hiệu quả của các công
cụ quản lý thì còn có một số các giải pháp khác mang tính hỗ trợ, cũng góp
7
1
phần quản lý chặt chẽ hơn đất đai và khai thác một cách hiệu quả hơn.
Những giải pháp hỗ trợ đó là:
- Chính sách thuế
- Chính sách về đầu tư vốn sản xuất
- Chính sách về giao đất ổn định lâu dài, khuyến khích tích tụ tập trung
đất đai kết hợp với chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
- Tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống
và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã.
 Chính sách thuế
Chúng ta biết rằng thuế là một công cụ quản lý rất quan trọng và hữu
hiệu của nhà nước khi trong hầu hết các lĩnh vực phải quản lý đều cần đánh
thuế. Trong lĩnh vực đất đai cũng vậy, có thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ
chuyển quyền sử dụng đất… Như vậy, các đối tượng sử dụng đất được
hưởng lợi từ đất đai thì đều phải nộp thuế (thuế sử dụng đất) (trừ những
trường hợp được Nhà nước quy định khác). Việc đánh thuế vừa để tạo thu
nhập cho Nhà nước, vừa để thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử
dụng đất. Đồng thời việc đánh thuế này làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích
của cá nhân, tổ chức sử dụng đất. Do vậy nhận thức được điều này thì người
sử dụng đất sẽ sử dụng hiệu quả hơn đối với đất đai. Trong sản xuất nông
nghiệp việc tính thuế được chia ra thành các loại cây trồng, ứng với từng
hạng đất và từng nơi. Tuy nhiên hiện nay không chỉ riêng gì Hoài Đức mà cả
nước ta vẫn đang tính thuế sử dụng đất nông nghiêp theo giá thóc của từng
địa phương qui định. Đây là một quy định hiện không còn phù hợp bởi
chúng ta đang sống trong một nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá.
Không thể cứ “quy ra thóc” mà tính được. Đất đai dùng sản xuất nông
nghiệp đang có xu hướng tập trung hoá, sản xuất theo qui mô lớn, ta cần
phải có cách thức tính thuế khác để đảm bảo nâng cao hiệu quả của công cụ
7
2
này (ta có thể tính theo mức thu nhập bình quân trên mỗi ha đất nông nghiệp
từng hạng, từng loại cây). Từ đó ta mới có thể phản ánh được hiệu quả của
các mô hình sản xuất nông nghiệp lớn.
Những nguồn thu từ thuế trong nông nghiệp có được tái phân bổ để đầu
tư vào cải tạo khai hoang đất hay đầu tư vào thuỷ lợi … nhằm mở rộng quỹ
đất hay nâng cao độ phì nhiêu của đất.
ở Hoài Đức hiện nay, dù tỉ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn
còn cao nhưng cơ cấu lao động đang thay đổi rất nhanh. Không phải đây là
sự thay đổi không tích cực mà sự thay đổi này đang làm một bộ phận dân cư
không có việc làm, họ không thiết tha với nghề nông dẫu rằng họ không hề
có một ngành nghề vào khác. Như vậy để lôi kéo những người này về với
nghề nông thì có một giải pháp là ta có thể giảm thuế hay miễn thuế đối với
từng đối tượng để khuyến khích họ sản xuất nông nghiệp với mục tiêu trước
mắt là tạo thu nhập cho họ, ổn định đời sống nhân dân và sau đó là việc góp
phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Chính sách về đầu tư vốn sản xuất.
Hiện nay Đảng ta đang có chủ trương khuyến khích “ai giỏi nghề gì
làm nghề đấy”. Tuy nhiên, đối với nông dân nhiều người có kinh nghiệm và
khả năng sản xuất, nhưng không thể cứ mãi sản xuất nhỏ với việc độc canh
cây lúa mà nhu cầu của mọi người đều là phải ngày càng sản xuất lớn hơn
với diện tích canh tác lớn hơn. Thế nhưng ở nông thôn, làm được điều này
thì không phải có nhiều người, nó còn vấp phải một số vấn đề mà điển hình
là vốn đầu tư.
Chúng ta biết, hiện nay sản xuất nông nghiệp không đơn thuần chỉ là
những sản phẩm nông nghiệp mà nó còn kết hợp với nông nghiệp sinh thái,
sản phẩm sinh học … Như vậy yêu cầu về vốn đầu tư không còn là của