Báo cáo tốt nghiệp kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần thực phẩm kinh đô sài gòn

  • 85 trang
  • file .doc
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí Do chọn đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như ngày nay, với cơ chế hạch toán
kinh doanh và sự cạnh tranh gay gắt của nhiều thành phần kinh tế thì để tồn tại lâu
dài và phát triển bền vững, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động có lãi. Thực hiện được yêu cầu
đó đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp cần nắm bắt thông tin kịp thời và chính
xác, từ đó làm cơ sở để đưa ra những quyết định kinh doanh sao cho có hiệu quả
nhất. Vì thế buộc các nhà quản lý phải quan tâm tới tất cả các khâu của quá trình
sản xuất, từ lúc bỏ vốn ra đến khi thu hồi vốn về vì mục đích cuối cùng của hầu hết
các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Trong điều kiện này các doanh nghiệp
phải tự mình quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào?
Lúc này doanh nghiệp nào tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa thì doanh
nghiệp đó đảm bảo thu hồi vốn, bù đắp được chi phí bỏ ra và xác định đúng kết quả
kinh doanh sẽ có cơ hội tồn tại và phát triển. Ngược lại, doanh nghiệp nào thiếu
quan tâm đến tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh sẽ dẫn đến tình trạng “lãi giả,
lỗ thật” như vậy không sớm thì muộn cũng đi đến chỗ phá sản. Muốn thực hiện
được điều đó, doanh nghiệp phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý, nhu cầu người
tiêu dùng với sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và phong phú, đa dạng,
chương trình tiếp thị, chương trình khuyến mãi hấp dẫn...có như thế doanh nghiệp
mới có thể cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Thực tế nền kinh tế thị trường đã và
đang cho thấy rõ điều đó.
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và
cuối cùng kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ sản phẩm mới có vốn để
tiến hành tái sản xuất mở rộng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nhưng muốn đẩy
mạnh khâu tiêu thụ đòi hỏi các nhà quản lý phải sử dụng nhiều công cụ và biện
pháp khác nhau, trong đó hạch toán kế toán là công cụ quan trọng, không thể thiếu
để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra việc sử dụng, quản lý tài sản,
hàng hóa nhằm đảm bảo tính năng động, sáng tạo và tự chủ trong sản xuất kinh
doanh. Nhờ có những thông tin kế toán cung cấp các nhà quản lý doanh nghiệp mới
biết được tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thế nào, kết quả kinh doanh
1
trong kì ra sao để từ đó làm cơ sở vạch ra chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thúc
đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường.
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của vấn đề trên, qua quá trình thực tập ở
công ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn, được sự hướng dẫn tận tình của
Thầy giáo Phạm Xuân Viễn cùng sự quan tâm chỉ bảo của các anh chị trong phòng
kế toán công ty, em nhận thấy kế toán nói chung và kế toán tiêu thụ thành phẩm và
xác định kết quả hoạt động kinh doanh là bộ phận hết sức quan trọng nên luôn luôn
đòi hỏi phải được hoàn thiện. Vì vậy, em quyết định đi sâu nghiên cứu công tác kế
toán của công ty với đề tài: “Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh
doanh tại Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu chủ yếu là hoàn thiện thêm mặt lý luận về
tổ chức công tác kế toán tiêu thụ sản phẩm và xác định kết quả kinh doanh trong
điều kiện nền kinh tế thị trường, các biện pháp tài chính nhằm đẩy mạnh tiêu thụ
sản phẩm để giải quyết một số vướng mắc trong thực tiễn hạch toán kế toán hiện tại.
b) Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu tình hình thực tế về tiêu thụ sản phẩm và công tác kế toán xác
định kết quả tại công ty nhằm đưa ra một số kiến nghị để cơ quan tham khảo. Học
hỏi và tích lũy kinh nghiệm thực tế cho bản thân.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp biện chứng: xét các mối quan hệ biện chứng của các đối
tượng kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong thời gian, không gian
cụ thể.
- Phương pháp thu thập số liệu:
a) Số liệu sơ cấp:
Quan sát, thu thập tài liệu từ công ty cũng như tìm hiểu những vấn đề có liên
quan đến công tác nghiên cứu từ những nhân viên kế toán tại đơn vị thực tập và
theo vốn hiểu biết của bản thân.
2
b) Số liệu thứ cấp:
+ Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp: bảng CĐKT, bảng báo cáo kết
quả HĐKD, phiếu thu, phiếu chi…
+ Thu thập thêm thông tin từ báo chí ( báo Sài Gòn Tiếp Thị, …) và
Internet.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán
tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh và các biện pháp
tài chính nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh
Đô Sài Gòn - Là công ty chuyên sản xuất và cung cấp cho thị trường các sản phẩm
bánh kẹo, chế biến thực phẩm công nghiệp. Trên cơ sở đó xác lập mô hình tổ chức
công tác kế toán tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở công ty đang áp dụng, đồng thời cải
tiến thêm để hoàn thiện hệ thống hạch toán kế toán cho doanh nghiệp.
Đề tài này xin được giới hạn trong phạm vi hoạt động kinh doanh sản xuất
của Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn. Người viết chỉ nghiên cứu quá
trình tiêu thụ sản phẩm, chi phí, doanh thu trong thời gian đầu năm 2010 ( Quý I ).
Các số liệu được thu thập từ phòng kế toán của công ty.
5. Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận –
kiến nghị.
Trong phần nội dung có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động
kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng và tình hình hoạt động của Công Ty Cổ Phần Thực
Phẩm Kinh Đô Sài Gòn.
Chương 3: Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại
Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn.
Trong điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế cả về thời gian và sự hiểu biết
của bản thân, vì vậy bài làm chắc chắn không thể tránh được thiếu sót, kính mong
sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của quý Thầy cô và các bạn giúp khóa luận được
hoàn thiện hơn.
3
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1. Kế toán tiêu thụ thành phẩm
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa tiêu thụ thành phẩm
1.1.1.1. Khái niệm
Hoạt động sản xuất sản phẩm bao gồm: sản xuất – lưu thông – phân phối –
tiêu dùng. Các giai đoạn này diễn ra một cách tuần tự và tiêu thụ là khâu cuối cùng
quyết định sự thành công hay thất bại của của sản phẩm cũng như của doanh
nghiệp.
Tiêu thụ thành phẩm là quá trình cung cấp sản phẩm cho khách hàng và thu
được tiền hàng hoặc được khách hàng chấp nhận thanh toán. Tiêu thụ chính là quá
trình chuyển hóa vốn từ hình thái hiện vật sang hình thai giá trị “tiền tệ” và hình
thành kết quả kinh doanh. Hay nói một cách khác, tiêu thụ là quá trình chuyển
quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa gắn với phần lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng
đồng thời thu được tiền hoặc giấy chấp nhận thanh toán. Sản phẩm của doanh
nghiệp nếu đáp ứng được nhu cầu thị trường sẽ được tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay
vốn, nếu có giá thành hạ sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Có nhiều phương thức phổ biến để tiêu thụ thành phẩm, có thể đó là tiêu thụ
sản phẩm theo phương thức xuất bán trực tiếp cho khách hàng, cũng có thể là
phương thức xuất gửi đại lý bán. Nếu doanh nghiệp xuất theo kiểu bán trực tiếp cho
khách hàng, doanh nghiệp có thể bán hàng theo giá trả ngay hay có thể bán theo giá
trả góp; doanh nghiệp có thể xuất bán sản phẩm cho khách hàng và thu tiền hay
được khách hàng chấp nhận thanh toán, cũng có thể xuất bán sản phẩm cho khách
hàng theo phương thức trao đổi hàng hóa.
Doanh nghiệp có thể cung cấp các sản phẩm theo yêu cầu và thỏa thuận với
các tổ chức và các cá nhân khác nhau; cũng có thể cung cấp theo yêu cầu hoặc theo
các đơn đặt hàng của nhà nước.
4
Sản phẩm của doanh nghiệp làm ra hầu hết được tiêu thụ trên thị trường,
cũng có trường hợp được tiêu dùng nội bộ; dùng làm quà tặng; khuyến mãi không
thu tiền; dùng để trả thay lương, thưởng cho người lao động...
Sản phẩm của doanh nghiệp có thể được tiêu thụ thị trường nội địa, cũng có
thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài để mở rộng thị trường.
1.1.1.2. Ý nghĩa
Tiêu thụ thành phẩm (hàng hóa) là thực hiện mục đích sản xuất và tiêu dùng,
đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, vì vậy quá trình tiêu thụ chính là
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Nó là giai đoạn tái sản xuất, tạo điều kiện thu
hồi vốn, bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với ngân Sách Nhà nước thông qua việc
nộp thuế, đầu tư phát triển tiếp, nâng cao đời sống người lao động. Đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường thì tiêu thụ không chỉ là việc bán hàng hóa mà nó bao gồm từ
nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, tổ chức mua và xuất bán hàng
hóa theo nhu cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
1.1.2. Kế toán tiêu thụ thành phẩm
Phương thức tiêu thụ thành phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng
các tài khoản kế toán phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hóa. Đồng thời,
có tính quyết định đến việc xác định thời thời điểm bán hàng, hình thành doanh thu
bán hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi nhuận. Hiện nay, các doanh
nghiệp thường vận dụng các phương thức bán hàng dưới đây:
1.1.2.1. Bán hàng và kế toán hàng bán theo phương thức gửi hàng đi bán
Theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng trên
cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa điểm
quy ước trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi đi, hàng vẫn thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp, chỉ khi nào khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì khi ấy
mới chuyển quyền sở hữu và được ghi nhận doanh thu bán hàng.
Tài khoản sử dụng: 157 – Hàng gửi đi bán.
Nội dung và kết cấu tài khoản 157:
Bên nợ ghi:
 Trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hóa gửi bán, kí gửi.
 Trị giá lao vụ, dịch vụ đã thực hiện với khách hàng nhưng chưa được
chấp nhận thanh toán.
5
 Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hóa, thành phẩm gửi bán chưa
được khách hàng chấp nhận thanh toán cuối kỳ (phương pháp kiểm kê
định kỳ).
Bên có ghi:
 Trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hóa dịch vụ gửi bán đã được
khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
 Trị giá hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ khách hàng trả lại hoặc không
chấp nhận.
 Kết chuyển trị giá thành phẩm, hàng hóa đã gửi đi chưa được khách
hàng thanh toán đầu kỳ (phương pháp kiểm kê định kỳ).
Số dư nợ: ghi bên nợ và phản ánh trị giá thành phẩm, hàng hóa gửi đi bán
chưa được khách hàng chấp nhận thanh toán.
Nguyên tắc phản ánh vào tài khoản:
 Chỉ phản ánh vào tài khoản 157 “ Hàng gửi đi bán” trị giá của sản phẩm
hàng hóa đã được gửi đi hoặc trị giá dịch vụ đã hoàn thành bàn giao cho
khách hàng theo hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng nhưng chưa được
chấp nhận thanh toán ( chưa được ghi nhận là doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ trong kỳ)
 Hàng hóa trên tài khoản này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
kế toán phải mở sổ theo dõi từng loại hàng hóa, từng sản phẩm; từng lần
gửi hàng và từng lần được chấp nhận thanh toán ( Hàng hóa, sản phẩm
được xác định là tiêu thụ).
 Không phản ánh vào tài khoản này chi phí vận chuyển, bốc xếp, ứng hộ
khách hàng...
Phương pháp kế toán theo phương thức gửi hàng :
 Đối với đơn vị hạch toàn hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên:
 Căn cứ vào phiếu xuất kho gửi thành phẩm, hàng hóa đi bán hoặc gửi cho
các đại lý nhờ bán hộ - kế toán ghi:
Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán
Có TK 155 – Thành phẩm
Có TK 156 – Hàng hóa
6
 Trường hợp DNTM mua hàng gửi đi bán ngay không qua nhập kho, kế
toán ghi:
Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán
Có TK 331 – Phải trả cho người bán
 Căn cứ vào giấy chấp nhận thanh toán hoặc các chứng từ thanh toán tiền
của khách hàng, của cơ sở đại lý bán hộ và các chứng từ thanh toán khác,
kế toán kết chuyển trị giá vốn của hàng đã bán sang bên nợ TK 632 – Giá
vốn hàng bán.
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 157 – Hàng gửi bán
 Thành phẩm, hàng hóa đã gửi đi hoặc dịch vụ đã thực hiện, khách hàng
không chấp nhận, kế toán phản ánh nghiệp vụ nhập lại kho:
Nợ TK 155 – Thành phẩm
Nợ TK 156 – Hàng hóa
Có TK 157 – Hàng gửi bán
 Đối với đơn vị hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ:
 Đầu kỳ, kết chuyển trị giá thành phẩm gửi đi bán cuối kỳ trước nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán, kế toán ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
có TK 157 – Hàng gửi bán
 Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thành phẩm gửi đi bán nhưng chưa
được xác định là bán, kế toán ghi:
Nợ TK 157 – Hàng gửi bán
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
 Khi xuất kho thành phẩm, kế toán ghi:
Nợ TK 157 – Xuất gửi bán
Nợ TK 632 – Xuất bán trực tiếp tại kho
Có TK 155 – Giá thành thực tế của thành phẩm xuất kho
1.1.2.2. Bán hàng và kế toán hàng bán theo phương thức giao hàng trực tiếp
7
Theo phương thức này, bên khách hàng ủy quyền cho cán bộ nghiệp vụ đến
nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán hoặc giao nhận hàng tay ba (các doanh
nghiệp thương mại mua bán thẳng). Người nhận hàng sau khi ký nhận vào chứng từ
bán hàng của doanh nghiệp thì hàng hóa được xác định là bán (sở hữu thuộc về
khách hàng).
Tài khoản sử dụng: 632 – Giá vốn hàng bán
Nội dung và kết cấu tài khoản 632:
Bên Nợ ghi:
 Trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hóa xuất kho đã được xác định
là bán.
 Trị giá vốn của thành phẩm tồn kho đầu kỳ (Phương pháp kiểm kê định
kỳ ở doanh nghiệp sản xuất).
 Trị giá vốn thực tế của thành phẩm sản xuất xong nhập kho và lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành (Phương pháp kiểm kê định kỳ ở DNSX).
 Thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ phải tính vào giá vốn hàng
bán.
Bên có ghi:
 Kết chuyển trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ
hoàn thành vào bên nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh.
 Kết chuyển trị giá vốn của thành phẩm tồn kho cuối kỳ vào bên nợ TK
155 – Thành phẩm (Phương pháp kiểm kê định kỳ ở DNSX).
Tài khoản 632 không có số dư.
Phương pháp xuất kho thành phẩm, hàng hóa theo phương thức bán hàng
trực tiếp như sau:
 Đối với đơn vị hạch toàn hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên:
 Căn cứ vào phiếu xuất kho, giao hàng trực tiếp cho khách hàng, kế toán
ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 155 – Thành phẩm
Có TK 156 – Hàng hóa
8
 Trường hợp doanh nghiệp thương mại, dịch vụ mua bán hàng giao tay ba,
kế toán ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 331 – Phải trả người bán
 Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn thành nhưng không
nhập kho mà chuyển bán ngay, kế toán ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 154 – Chi phí SXKD dở dang
 Cuối kỳ, kết chuyển trị giá vốn hàng xuất kho đã bán vào bên nợ TK 911
– xác định kết quả kinh doanh, kế toán ghi:
Nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
Ngoài ra, các trường hợp bán lẻ hàng hóa, bán hàng trả góp cũng sử dụng tài
khoản 632 để phản ánh tình hình giá vốn hàng xuất kho đã bán.
 Đối với đơn vị hạch toàn hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ:
 Đầu kỳ, kết chuyển giá trị thành phẩm tồn kho và gởi bán đại lý, kế toán
ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 155 – Trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ
Có TK 157 – Trị giá thành phẩm gửi bán đại lý đầu kỳ
 Xác định và kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm trong
kỳ:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 631 – Giá thành sản xuất sản phẩm
 Cuối kỳ, kiểm kê xác định giá thành phẩm tồn kho, thành phẩm gửi
nhưng chưa được thanh toán hoặc chưa được chấp nhận thanh toán:
Nợ TK 155 – Giá trị thành phẩm tồn kho cuối kỳ
Nợ TK 157 – Giá trị thành phẩm gửi bán đại lý cuối kỳ
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
 Xác định và kết chuyển giá vốn của thành phẩm tiêu thụ trong kỳ:
Nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
9
( Trị giá thành phẩm được xác định là tiêu thụ trong kỳ)
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
1.2. Kế toán xác định kết quá hoạt động kinh doanh
1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa kết quá kinh doanh
1.2.1.1. Khái niệm
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng (cũng là lợi nhuận) của doanh
nghiệp bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động
khác.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số còn lại của doanh thu thuần sau khi
trừ giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: kết quả của hoạt động sản xuất, chế biến;
kết quả hoạt động thương mại; kết quả hoạt động lao vụ, dịch vụ.
1.2.1.2. Ý nghĩa
Mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được
quan tâm nhất là kết quả kinh doanh và làm như thế nào để kết quả kinh doanh ngày
càng tốt ( tức lợi nhuận mang lại càng nhiều). Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào việc
kiểm soát doanh thu, chi phí và xác định, tính toán kết quả kinh doanh trong kỳ của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải biết kinh doanh mặt hàng nào để có kết quả cao
và kinh doanh như thế nào để có hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường
cao...nên đầu tư để mở rộng kinh doanh hay chuyển sang kinh doanh mặt hàng
khác. Do vậy, việc xác định kết quả kinh doanh là rất quan trọng nhằm cung cấp
thông tin trung thực, hợp lý giúp các chủ doanh nghiệp hay giám đốc điều hành có
thể phân tích, đánh giá và lựa chọn phương án kinh doanh, phương án đầu tư có
hiệu quả tối ưu.
1.2.2. Khái niệm, nguyên tắc và nhiệm vụ kế toán liên quan đến việc xác
định kết quả kinh doanh
1.2.2.1. Khái niệm kế toán
a) Khái niệm:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa, lao vụ, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và sản xuất phụ.
10
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Doanh thu - Giá vốn Chi phí Chi phí
Lãi = thuần hàng bán + + quản lý
bán hàng
-
DN
- kết quả hoạt động tài chính là số còn lại của các khoản thu nhập từ hoạt
động tài chính sau khi đã trừ các khoản chi phí hoạt động tài chính như: mua bán
chứng khoán, cho vay, góp vốn liên doanh...
Kết quả hoạt động Thu nhập hoạt Chi phí
= -
tài chính động tài chính tài chính
- Kết quả hoạt động khác: là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác,
chi phí khác.
Kết quả hoạt động Thu nhập Chi phí
khác = khác - khác
b) Ý nghĩa:
Sau khi doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ xong thì
thông tin về kết quả tiêu thụ là rất quan trọng. Dựa vào đó doanh nghiệp mới kiểm
tra được chi phí, doanh thu và tình hình hoạt động tại đơn vị. Tất cả đều phục vụ
cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Yếu tố
được doanh nghiệp quan tâm nhất là kết quả kinh doanh và làm thế nào để kết quả
đó mang lại lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy, các nhà quản trị hay giám đốc điều hành
phải lựa chọn các phương án, chiến lược kinh doanh thích hợp nhằm đạt được mục
tiêu lợi nhuận. Điều này không chỉ đòi hỏi ở nhà quản trị có năng lực mà còn phụ
thuộc vào các thông tin kế toán được cung cấp đảm bảo tính tin cậy, trung thực và
kịp thời.
1.2.2.2. Nguyên tắc kế toán
Phản ánh đầy đủ, chính xác các khoản kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ
hạch toán theo đúng quy định của chế độ quản lý tài chính.
11
Kết quả hoạt động kinh doanh phải hạch toán chi tiết theo từng loại hoạt động
như hoạt động sản xuất, chế biến; hoạt động kinh doanh thương mại; hoạt động dịch
vụ; hoạt động tài chính; hoạt động khác. Trong từng loại hoạt động kinh doanh, có
thể được hạch toán chi tiết cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại dịch
vụ,...
Các khoản doanh thu và thu nhập được kết chuyển vào tài khoản xác định kết
quả kinh doanh là số doanh thu thuần và thu nhập thuần.
Sau một kỳ kế toán, cần xác định kết quả của hoạt động kinh doanh trong kỳ
với yêu cầu chính xác và kịp thời. Chú ý nguyên tắc phù hợp khi ghi nhận giữa
doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán.
1.2.2.3. Nhiệm vụ kế toán
Phản ánh và giám đốc tình hình kế hoạch tiêu thụ thành phẩm, tính toán
doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu ( chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
bán, hàng bán bị trả lại và các khoản thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước).
Theo dõi, phản ánh, kiểm soát chặt chẽ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch
vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Ghi nhận đầy đủ, kịp thời vào các
khoản chi phí thu nhập của từng địa điểm kinh doanh, từng mặt hàng, từng hoạt
động.
Phân tích sự biến động của các khoản giảm trừ doanh thu để đánh giá hiệu
quả của các chiến lược đang thực hiện ( chẳng hạn doanh nghiệp áp dụng chính
sách chiết khấu thương mại có hiệu quả hay không, có nên thay đổi hay từ bỏ thực
hiện chính sách đó); hoặc tìm ra nguyên nhân nhằm giảm thiểu tình trạng phải giảm
giá hàng bán, hàng bán bị trả lại vì những trường hợp này một mặt làm tổn hại đến
lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, mặt khác làm giảm uy tín của doanh nghiệp trên
thị trường.
Xác định kết quả từng hoạt động trong doanh nghiệp, phản ánh và kiểm tra,
giám sát tình hình phân phối kết quả kinh doanh. Xác định đúng số thuế phải nộp
cho nhà nước liên quan tới quá trình tiêu thụ thành phẩm và kịp thời thanh toán với
ngân sách nhà nước theo quy định của các luật thuế hiện hành.
Phản ánh và giám đốc tình hình thu nợ khách hàng về tiền mua hàng; vào
thời điểm cuối niên độ kế toán, căn cứ vào tình hình thực tế và chứng cứ thu thập
được để lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi; tiến hành xóa sổ các khoản nợ
12
phải thu khó đòi nếu thực tế không thể thu hồi được và theo dõi việc thu hồi các
khoản nợ phải thu khó đòi đã xử lý xóa sổ.
Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông
tin liên quan. Định kỳ, tiến hành phân tích kinh tế hoạt động bán hàng, kết quả kinh
doanh và tình hình phân phối lợi nhuận.
1.2.3. Nội dung kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh
1.2.3.1. Kế toán xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
a) doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Khái niệm: + Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu
được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
+ Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu
hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là lợi ích kinh tế, không
làm tăng vốn chủ sở hữu nên không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của
cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải là doanh thu.
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và phản ánh lên sơ đồ tài khoản
Kế toán sử dụng TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
TK 512: Doanh thu bán hàng nội bộ
Doanh thu của giao dịch và cung ứng dịch vụ được xác định khi thoả mãn
đồng thời 5 điều kiện sau:
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó
+ Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối
kế toán.
+ Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành
giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở
hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
Sơ đồ hạch toán doanh thu cung ứng dịch vụ
13
Tài Khoản 511,512
- Thuế TTĐB, Thuế XK, Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp
- Khoản chiết khấu thương mại
- Trị giá hàng bị trả lại, giảm giá hàng bán
- Kết chuyển doanh thu bán hàng vào TK 911- Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ phát sinh trong kỳ
Tài Khoản 511,512 không có số dư cuối kỳ
b) Các khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu bán hàng thuần mà doanh nghiệp thu được có thể thấp hơn doanh
thu bán hàng. Doanh thu thuần là khoản chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các
khoản giảm trừ doanh thu.
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:
- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Khoản giảm giá có thể phát sinh trên khối
lượng từng lô hàng mà khách hàng đã mua, cũng xó thể phát sinh trên tổng khối
lượng hàng mua lũy kế trong một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vào chính
sách chiết khấu thương mại của bên bán.
Tài khoản sử dụng: 521 “chiết khấu thương mại”
Nội dung tài khoản:
Bên nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận cho khách hàng được hưởng.
Bên có: Kết chuyển số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ vào tài
khoản 511 “ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần.
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua cho toàn bộ hay một
phần hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Như vậy chiết
khấu thương mại hoặc giảm giá hàng bán đều là giảm giá cho người mua, song lại
phát sinh trong hai trường hợp khác nhau hoàn toàn.
Tài khoản sử dụng: 532 “ giảm giá hàng bán”
Nội dung tài khoản:
Bên nợ: các khoản giảm giá hàng bán đã chấp nhận cho khách hàng được
hưởng.
14
Bên có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ vào
tài khoản 511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu
thuần.
- Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do các nguyên nhân như: vi phạm cam kết;
vi phạm hợp đồng kinh tế; hàng bị mất, kém phẩm chất; không đúng phẩm chất, quy
cách. Khi doanh nghiệp ghi nhận trị giá hàng bán bị trả lại cần đồng thời ghi giảm
tương ứng trị giá vốn hàng bán trong kỳ.
Tài khoản sử dụng: 531 “Hàng bán bị trả lại”
Nội dung tài khoản:
Bên nợ: Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho khách hàng hoặc
tính trừ số tiền khách hàng còn nợ.
Bên có: Kết chuyển số hàng bị trả lại phát sinh trong kỳ vào tài khoản 511 “
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần.
- Thuế TTĐB, thuế xuất khẩu và thuế GTGT trực tiếp: là các khoản thuế
được xác định trực tiếp trên doanh thu bán hàng theo quy định hiện hành của các
luật thuế tùy từng loại mặt hàng khác nhau. Các khoản thuế này tính cho đói tượng
tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nên các cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ là đơn vị thu
nộp thuế thay cho người tiêu dùng hàng hóa đó.
1.2.3.2. Kế toán xác định kết quả hoạt động tài chính
a) doanh thu hoạt động tài chính:
Khái niệm: doanh thu hoạt động tài chính gồm doanh thu tiền lãi, tiền bản
quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh
nghiệp.
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và phản ánh lên sơ đồ tài khoản
Doanh thu hoạt động tài chính được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 2 điều
kiện sau:
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó.
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
15
Sơ đồ tài khoản: TK51
5 515
- Tiền lãi, cổ tức và lợi
- Số thuế GTGT phải nhuận được chia.
nộp tính theo phương - Chiết khấu thanh toán
pháp trực tiếp (nếu có) được hưởng.
- Kết chuyển doanh thu - Doanh thu hoạt động tài
hoạt động tài chính chính khác phát sinh trong kì
thuần sang TK 911
Tài khoản 515 không có số dư cuối kỳ
b) Chi phí hoạt động tài chính:
Là những khoản chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc
các khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính: chi phí vốn vay, chi phí góp
vốn liên doanh, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn…
Kế toán sử dụng tài khoản 635 – Chi phí tài chính
tài khoản 635
- Chi phí hoạt động tài chính. - Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư
- Khoản lỗ do thanh lí đầu tư ngắn hạn, chứng khoán.
chênh lệch tỷ giá hối đoái, bán ngoại tệ... - Cuối kỳ, kết chuyển vào tài khoản 911-
- Dự phòng giảm giá đầu tư chứng xác định kết quả kinh doanh
khoán.
- Chi phí chuyển nhượng, cho thuê cơ sở
hạ tầng.
Tài khoản 635 không có số dư cuối kỳ
1.2.3.3. Kế toán xác định kết quả hoạt động khác
a) Doanh thu khác
Khái niệm: Doanh thu khác là khoản thu nhập phát sinh không thường
xuyên góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra
doanh thu, bao gồm: thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ, thu tiền phạt do
TK71
khách hàng vi phạm hợp đồng, thu nhập
1 từ quà biếu, quà tặng bằng tiền hoặc hiện
vật củaSố
tổ thuế
chức,GTGT
cá nhân tặng
phải cho
nộp doanh
tính theonghiệp… Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý
phương pháp sử
Tài khoản trựcdụng:
tiếp (nếu có)sử dụng TK
kế toán sản–cốDoanh
tài711 định. thu khác
Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ các
khoản thu nhập khác phát sinh trong
kỳ vào TK 911.
16
Tài khoản 711 không có số dư cuối kỳ
b) chi phí khác:
Khái niệm: Chi phí khác là những chi phí (bao gồm khoản lỗ) do các sự kiện
hay các nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp gây ra,
cũng có thể là những khoản chi phí bị bỏ sót từ những năm trước, gồm: chi phí
thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, bị phạt thuế,
truy nộp thuế…
Tài khoản sử dụng: kế toán sử dụng TK 811 – Chi phí khác
TK 811
Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ các
Chi phí thanh lý nhượng bán tài
khỏan thu nhập khác phát sinh trong
sản cố định.
kỳ vào TK 911.
Các khoản chi phí khác.
Tài khoản 811 không có số dư cuối kỳ
1.2.3.4. Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh
a) Kế toán giá vốn hàng bán
Để xác định đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết cần xác
định đúng giá vốn hàng bán. Giá vốn hàng bán là giá vốn thực tế xuất kho của số
hàng hoá (gồm cả chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng hoá đã bán ra trong kỳ -
đối với DN thương mại, hoặc là giá thành thực tế sản phẩm, lao vụ, dịch vụ - đối
với DNSX ) đã xác định là đã tiêu thụ, được tính vào giá vốn để xác định kết quả
kinh doanh.
Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán được xác định bằng 1 trong 4 phương pháp
và đồng thời phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể, ở phạm vi nghiên
cứu này chỉ giới hạn trình bày trong doanh nghiệp sản xuất.
17
Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán hoặc thành phẩm hoàn thành không nhập
kho đã bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho hoặc
giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành. Có 4 phương pháp tính giá
vốn:
- Giá thực tế đích danh: Khi xuất kho thành phẩm thì căn cứ vào số lượng
xuất kho thuộc lô nào và giá thành thực tế nhập kho của lô đó để tính giá trị xuất
kho.
- Giá bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, trị giá vốn của thành phẩm xuất
kho để bán được căn cứ vào số lượng thành phẩm xuất kho và đơn giá bình quân
gia quyền.
- Giá nhập truớc xuất trước (FIFO): Với giả thiết thành phẩm nào nhập kho
trước thì sẽ xuất trước, thành phẩm nhập kho theo giá nào thì sẽ xuất kho theo giá
đó, sau đó căn cứ số lượng xuất kho để tính thực tế xuất kho. Như vậy, giá vốn thực
tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ được tính theo giá thành thực tế của thành phẩm
thuộc các lần nhập sau cùng.
- Giá nhập sau xuất trước (LIFO): Với giả thiết thành phẩm nào nhập kho
sau thì sẽ xuất trước, thành phẩm nhập kho theo giá nào thì sẽ xuất kho theo giá đó,
sau đó căn cứ số lượng xuất kho để tính thực tế xuất kho. Như vậy, giá vốn thực tế
của thành phẩm tồn kho cuối kỳ được tính theo giá thành thực tế của thành phẩm
thuộc các lần nhập đầu tiên.
Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng TK 632 – Giá vốn hàng bán: phản ánh
trị giá vốn của thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoặc giá thành sản phẩm xây lắp xuất
bán trong kỳ ( đã xác định là tiêu thụ ).
Tài Khoản 632
- Phản ánh giá vốn hàng hóa, dịch vụ đã - Phản ánh GVHB bị trả lại.
tiêu thụ trong kỳ. - Phản ánh tài khoản nhập dự phòng
- Phản ánh chi phí NVL, nhân công vượt giảm giá cuối năm tài chính.
trên mức bình thường và CPSXC cố định - Kết chuyển GVHB trong kỳ vào TK
không phân bổ, không được tính vào trị 911- Xác định kết quả kinh doanh
giá hàng tồn kho mà tính vào giá vốn
hàng bán.
18
- Phản ánh hao hụt, mất mát hàng
tồn kho sau khi trừ phần bồi thường
do trách nhiệm cá nhân gây ra.
TK 632 không có số dư
b) Kế toán chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình lưu thông và tiếp thị
khi tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ bao gồm: chi phí bảo quản, chi phí
quảng cáo, đóng gói, vận chuyển, hoa hồng…. Có thể nói, chi phí bán hàng là chi
phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ.
Một số loại chi phí bán hàng của doanh nghiệp theo quy định hiện hành:
Chi phí nhân viên: là các khoản lương và phụ cấp phải trả cho nhân viên bán
hàng; nhân viên đóng gói; bảo quản và vận chuyển sản phẩm, hàng hóa... và các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương theo quy định.
Chi phí vật liệu bao bì: là các chi phí vật liệu bao bì dùng để đóng gói sản
phẩm hàng hóa; chi phí vật liệu dùng cho bảo quản, bóc vác, nhiên liệu cho vận
chuyển sản phẩm hàng hóa trong tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa TSCĐ....
Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa: là các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa,
bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian quy định về bảo hành.
Chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dụng cụ, đồ dùng: chi phí khấu hao của các
TSCĐ dùng trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như nhà kho, cửa hàng,
phương tiện bóc dở...Chi phí về công cụ, dụng cụ, đồ dùng đo lường, tính toán, làm
việc...
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ
hàng hóa, sản phẩm như chi phí thuê TSCĐ; thuê kho bãi; thuê bóc vác, vận
chuyển, hoa hồng cho các đại lý bán hàng,...
Kế toán sử dụng TK 641- Chi phí bán hàng
TK 641
Kết chuyển chi phí bán hàng
Tập hợp các chi phí bán vào bên Nợ TK 911 - “Xác định
hàng phát sinh trong kỳ kết quả kinh doanh”, hoặc vào
bên Nợ TK 142 - “CP chờ kết
chuyển”
19
Tài khoản 641 không có số dư cuối kỳ
c) Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí có liên quan đến hoạt động chung
của DN bao gồm: chi phí quản lý, chi phí quản lý hành chính, chi phí chung khác
liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành, chi phí quản
lý doanh nghiệp được chia thành: chi phí nhân viên quản lý; chi phí vật liệu quản lý;
chi phí đồ dùng văn phòng; chi phí khấu hao tài sản; thuế, phí và lệ phí; chi phí dự
phòng; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác.
Kế toán sử dụng TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Về cơ bản chi phí quản lý doanh nghiệp hạch toán tương tự chi phí bán hàng.
TK 642
Tập hợp các chi phí Kết chuyển chi phí quản lí
quản lí doanh nghiệp phát doanh nghiệp vào bên Nợ TK
sinh trong kỳ 911 - “Xác định kết quả kinh
doanh”, hoặc vào bên Nợ TK
142 - “CP chờ kết chuyển”
Tài khoản 642 không có số dư cuối kỳ
1.2.3.5. Kế toán xác định kết quả kinh doanh
Kế toán sử dụng TK 911 “ Xác định kết quả kinh doanh” dùng để xác định
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán.
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt
động kinh doanh và lợi nhuận khác.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ; doanh thu hoạt động tài chính và trị giá vốn
hàng bán; chi phí bán hàng; chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính.
Lợi nhuận khác là số chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác.
Kết cấu và nội dung phản ánh TK 911
TK 911
20