Báo cáo tổng kết đề tài phân tích, đánh giá năng lực công nghệ trong nghiên cứu, điều tra cơ bản địa chất và tài nguyên khoáng sản các đơn vị thuộc bộ tài nguyên và môi trường

  • 106 trang
  • file .pdf
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
TRONG NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT
VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
CÁC ĐƠN VỊ THUỘC BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
6839
15/5/2008
HÀ NỘI- 2008
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
BÁO CÁO
PHÂNTÍCH, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
TRONG NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT
VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
CÁC ĐƠN VỊ THUỘC BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KT. CỤC TRƯỞNG
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
VIỆT NAM
TS. Nguyễn Thành Vạn TS.Trần Tất Thắng
HÀ NỘI- 2008
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương I. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ 5
BẢN ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
I.1. Tổ chức thực hiện 5
I.1.1. Khái quát về lịch sử phát triển ngành điều tra địa chất, 5
khoáng sản ở Việt Nam
I.1.2. Các đơn vị thực hiện công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản 5
địa chất và tài nguyên khoáng sản trong Bộ Tài nguyên và Môi
trường
I.1.3. Các tổ chức ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường tham gia 6
thực hiện các hoạt động nghiên cứu, điều tra cơ bản địa chất và
tài nguyên khoáng sản
I.2. Các nhiệm vụ chủ yếu trong nghiên cứu, điều tra địa chất cơ bản 7
địa chất và tài nguyên khoáng sản
I.3. Các kết quả chủ yếu 8
I.3.1. Nghiên cứu, tổng hợp, xuất bản. 8
I.3.2. Công tác tổng hợp, biên tập và xuất bản 8
I.3.3. Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản 8
I.3.4. Điều tra, thăm dò khoáng sản 9
I.3.5. Công tác điều tra địa chất thuỷ văn- địa chất công trình, 10
nguồn nước dưới đất
I.3.6. Điều tra địa chất đô thị 11
I.3.7. Điều tra môi trường địa chất và tai biến địa chất 11
Chương II. TỔ CHỨC ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG 11
NGHỆ TRONG NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT VÀ
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
II.1. Thành phần chủ yếu của năng lực công nghệ trong nghiên cứu, 11
điều tra cơ bản địa chất và tài nguyên khoáng sản
II.2. Tổ chức điều tra và phương thức đánh giá năng lực công nghệ 12
II.2.1. Tổ chức điêù tra 12
II.2.2. Hệ tiêu chí đánh giá các nhóm thiết bị 13
Chương III : ĐÁNH GIÁ HIÊN TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ 16
TRONG NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT VÀ TÀI
NGUYÊN KHOÁNG SẢN
III.1. Hiện trạng trình độ công nghệ các phương pháp điều tra 16
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 1
III.1.1. Trong công tác trắc địa phục vụ các nhiệm vụ điều tra 16
địa chất, khoáng sản
III.1.2. Trong công tác ứng dụng các phương pháp viễn thám 22
III.1.3. Trong công tác địa vật lý 24
III.1.4. Trong công tác khoan máy và bơm hút nước thí nghiệm 33
III.1.5. Trong công tác phân tích mẫu địa chất 42
III.1.6. Hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong điều tra 50
địa chất, khoáng sản.
III.1.7. Hiện trạng phương tiện vận tải chuyên dụng 57
III.2. Đánh giá trình độ công nghệ thông qua hệ thống thông tin 61
khoa học-kỹ thuật
III.3. Đánh giá trình độ công nghệ thông qua lực lượng lao động 61
III.4. Đánh giá năng lực công nghệ theo các nhóm nhiệm vụ 66
III.4.1. Năng lực công nghệ trong nghiên cứu địa chất, khoáng 66
sản
III.4.2. Năng lực công nghệ trong điều tra lập bản đồ địa chất 66
khoáng sản
III.4.3. Năng lực công nghệ trong điều tra đánh giá tiềm năng, 67
thăm dò khoáng sản
III.4.4. Năng lực công nghệ trong điều tra biển 69
III.4.5. Năng lực công nghệ trong điều tra địa chất thuỷ văn, 70
tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Các chữ viết tắt
ĐC, KS, NDĐ- địa chất, khoáng sản, nước dưới đất
Bộ TN và MT- Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cục ĐC và KSVN - Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Viện KH ĐC và KS - Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản
LĐĐC- Liên đoàn địa chất
LĐBĐĐC- Liên đoàn bản đồ địa chất
LĐĐCTV-ĐCCT Liên đoàn địa chất thuỷ văn- địa chất công trình
PTTN – Phân tích thí nghiệm
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 2
MỞ ĐẦU
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên tại cuộc họp ngày
18/9/2007 về công tác quản lý Nhà nước về địa chất khoáng sản (Thông báo số
159/TB-BTNMT, ngày 19/9/2007) và tại cuộc họp giao ban tuần thứ 39 năm 2007
(Thông báo số 170/TB-BTNMT, ngày 28/9/2007). Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
giao cho Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam nhiệm vụ đánh giá hiện trạng năng
lực công nghệ trong nghiên cứu, điều tra cơ bản địa chất và tài nguyên khoáng sản với
mục tiêu:
Điều tra làm rõ hiện trạng năng lực công nghệ trong nghiên cứu, điều tra cơ
bản địa chất và tài nguyên khoáng sản tại các đơn vị địa chất thuộc Bộ Tài nguyên và
Môi trường. Tìm hiểu các hướng phát triển công nghệ trong lĩnh vực điều tra địa chất,
khoáng sản trên thế giới và khu vực. Đề xuất hướng nâng cao năng lực công nghệ.
Các nhiệm vụ cụ thể của đề tài là:
- Đánh giá hiện trạng năng lực công nghệ của các đơn vị địa chất thuộc Bộ Tài
nguyên và Môi trường, làm rõ mặt mạnh, yếu của các loại thiết bị, kỹ năng sử dụng,
mức độ áp dụng công nghệ, sự đầy đủ của các quy trình kỹ thuật, trình độ lao động sử
dụng các công nghệ, thiết bị mới.
-Tìm hiểu hướng phát triển và đổi mới công nghệ của các nước trong khu vực
và các nước phát triển trong lĩnh vực điều tra địa chất, tài nguyên khoáng sản.
- Đề xuất các hướng phát triển năng lực công nghệ, xây dựng đề cương dự án nâng
cao năng lực trình độ công nghệ đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Đối tượng đánh giá của đề tài này là năng lực công nghệ. Năng lực công nghệ
được hiểu theo Luật Khoa học và Công nghệ và thực tế của ngành điều tra địa chất,
khoáng sản là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, phương tiện dùng để thu
thập các thông tin cần thiết đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Phạm vi đánh giá của đề tài là: Các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thời điểm đánh giá: Đầu năm 2007
Thuyết minh của đề tài đã được Vụ Khoa học-Công nghệ phê duyệt và ký hợp
đồng thực hiện với Văn phòng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Hợp đồng số
04ĐC-07/HĐKHCN ngày 04/12/2007).
Kết quả thực hiện đề tài này gồm :
- Báo cáo đánh giá hiện trạng năng lực công nghệ trong nghiên cứu, điều tra cơ
bản địa chất và tài nguyên khoáng sản.
- Đề cương dự án nâng cao năng lực công nghệ trong nghiên cứu, điều tra cơ
bản địa chất và tài nguyên khoáng sản các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Báo cáo này là một phần kết quả của đề tài nêu trên.
Tham gia thực hiện đề tài và lập báo cáo này là tập thể cán bộ quản lý kỹ thuật
địa chất của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, phối hợp với Viện Khoa học Địa
chất và Khoáng sản, các Liên đoàn địa chất, dưới sự chỉ đạo sát sao của Vụ Khoa học -
Công nghệ và Lãnh đạo Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Chủ nhiệm đề tài là
TS Trần Tất Thắng. Các cán bộ tham gia gồm có:
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 3
- Nhóm Địa chất: TS Nguyễn Văn Quý, TS Ngô Quang Toàn, TS Hoàng Anh
Khiển, TS Nguyễn Linh Ngọc, TS Mai Trọng Tú, TS Trần Văn Miến, KS Phan Thiện,
KS Nguyễn Bá Minh, KS Nguyễn Trọng Dũng.
- Nhóm ĐCTV-ĐCCT: ThS Bạch Ngọc Quang, ThS Nguyễn Duy Dũng, KS
Đỗ Viết Thắng, với sự tham gia của ThS Lê Văn Kiều, ThS Lê Anh Dũng;
- Nhóm Địa vật lý: TS Nguyễn Tuấn Phong, KS Nguyễn Thị Giang Thu, KS
Nguyễn Quốc Phôn.
- Nhóm Phân tích thí nghiệm: ThS Phạm Thị Chung.
- Nhóm Trắc địa: KS Vũ Ngọc Toàn.
- Nhóm tổ chức, lao động: Cử nhân Đỗ Đình Phiên
Văn phòng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam quản lý và tổ chức thực hiện.
Trong quá trình thực hiện đề tài tập thể tác giả đã nhận được sự phối hợp tích
cực, có trách nhiệm của lãnh đạo, các phòng kỹ thuật, kế hoạch của các Liên đoàn, sự
tham gia của các TS Đỗ Trọng Sự, Lê Anh Dũng thuộc Vụ Khoa học-Công nghệ, Bộ
TN và MT.
Tập thể thực hiện đề tài này chân thành cám ơn Lãnh đạo Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Vụ Khoa học-Công
nghệ và các đồng nghiệp đã giúp đỡ trong khảo sát thu thập thông tin, đánh giá, tổng
hợp tài liệu trong quá trình thực hiện đề tài.
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 4
Chương I
HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU,
ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
I.1. Tổ chức thực hiện
I.1.1. Khái quát về lịch sử phát triển ngành điều tra địa chất, khoáng sản ở
Việt Nam
Trong thời kỳ thuộc Pháp, Sở Mỏ Nam Bộ thành lập năm 1869, Sở Địa chất
Đông Dương thành lập năm 1898 và đã tiến hành một số công việc điều tra cơ bản về
địa chất và khoáng sản.
Từ ngày 02/10/1945, ngành điều tra địa chất nằm trong Nha Kỹ nghệ, sau
chuyển thành Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ. Từ năm 1955 Chính phủ thành lập Sở Địa
chất thuộc Bộ Công nghiệp. Tổ chức của ngành điều tra địa chất khoáng sản đã có
nhiều thay đổi theo quá trình phát triển và nhu cầu của Quốc gia. Sở Địa chất đã lớn
mạnh thành Cục Địa chất năm 1959 và Tổng cục Địa chất năm 1960, Tổng cục Mỏ và
Địa chất năm 1987 với tổng số lao động đến 20 000 người. Từ năm 1990, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, Cục Địa chất Việt Nam (1990-1996) và Cục
Địa chất và Khoáng sản Việt Nam từ năm 1997 đến nay, tập trung điều tra cơ bản địa
chất và khoáng sản. Các nhiệm vụ thăm dò chuyển giao cho các Tổng Công ty nhà
nước và các doanh nghiệp khác thực hiện.
I.1.2. Các đơn vị thực hiện công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản địa chất và
tài nguyên khoáng sản trong Bộ Tài nguyên và Môi trường
Hiện nay, thực hiện công tác điều tra cơ bản địa chất và tài nguyên khoáng sản
trong Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm có:
- Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam: có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về các hoạt động điều tra cơ bản địa chất
vẩntì nguyên khoáng sản, hoạt động khoáng sản và thực hiện nhiệm vụ điều tra cơ bản
địa chất, điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản nhằm phát hiện mỏ trong
phạm vi cả nước.
Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam có các đơn vị sau đây:
1. Liên đoàn Địa chất Đông Bắc
2. Liên đoàn Địa chất Tây Bắc
3. Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ
4. Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ
5. Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc
6. Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam
7. Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Bắc
8. Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Trung
9. Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Nam
10. Liên đoàn Intergeo
11. Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm
12. Liên đoàn Vật lý địa chất
13. Liên đoàn Địa chất biển
14. Liên đoàn Trắc địa Địa hình
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 5
15. Trung tâm Thông tin-Lưu trữ địa chất
16. Trung tâm Phân tích thí nghiệm Địa chất
17. Bảo tàng Địa chất
18. Tạp chí Địa chất
- Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản có nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản để
xây dựng luận cứ khoa học cho việc điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản,
phòng ngừa tai biến địa chất và các tác hại về môi trường địa chất; tham gia nghiên
cứu xây dựng chiến lược phát triển, chính sách, pháp luật về địa chất, khoáng sản;
nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ về địa chất, khoáng
sản; tổ chức thực hiện hoặc tham gia thực hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên
cứu khoa học - công nghệ về địa chất, khoáng sản; thực hiện công tác đào tạo nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn và đào tạo sau đại học về địa chất, khoáng sản.
Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản có các phòng và các đơn vị sau đây:
1. Phòng Cổ sinh và Địa tầng.
2. Phòng Thạch luận - Trầm tích luận.
3. Phòng Kiến tạo - Địa mạo.
4. Phòng Khoáng sản Kim loại.
5. Phòng Khoáng sản Không kim loại.
6. Phòng Địa chất Thủy văn - Địa chất Công trình.
7. Phòng Viễn thám - Toán địa chất.
8. Phòng Địa hóa và Môi trường.
9. Phòng Địa vật lý.
10. Phòng Phân tích Khoáng thạch học.
11. Phòng Khoáng vật-Địa chất đồng vị.
12. Phòng Kinh tế Địa chất - Nguyên liệu khoáng.
13. Phân Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản phía Nam (đặt tại
thành phố Hồ Chí Minh).
14. Trung tâm Công nghệ Địa chất và Khoáng chất Công nghiệp.
I.1.3. Các tổ chức ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường tham gia nghiên
cứu, điều tra cơ bản địa chất và tài nguyên khoáng sản
Hiện nay có các tổ chức sau đây ở ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường tham gia
thực hiện công tác nghiên cứu địa chất và khoáng sản :
1. Viện Địa chất thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có nhiệm vụ
nghiên cứu cơ bản về địa chất. Trong thời gian qua, các cán bộ của Viện đã thực hiện
các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Viện và các hợp đồng nghiên cứu với
các tổ chức thuộc các tỉnh, các ngành trong nhiều lĩnh vực: địa tầng, magma, tân kiến
tạo, địa hoá, địa vật lý. Viện có phòng phân tích được trang bị máy phân tích quang
phổ plasma khối phổ ICP-MS.
2. Viện Vật lý địa cầu: là tổ chức có nhiệm vụ nghiên cứu về nhiều lĩnh vực
trong đó có nhiệm vụ quan trắc, nghiên cứu và dự báo động đất, theo dõi biến thiên địa
từ ở Việt Nam.
3. Viện Hải dương học: là tổ chức có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về biển,
trong đó đã nghiên cứu, hoàn thành một số đề tài về địa chất, tài nguyên biển.
4. Trường Đại học Mỏ- Địa chất: có tập thể các giáo sư, giảng viên về địa chất
và khoáng sản, có các Trung tâm thực hiện, tham gia thực hiện một số đề tài nghiên
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 6
cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước và các hợp đồng dịch vụ về thăm dò khoáng sản, điều tra tài
nguyên nước, địa kỹ thuật và các công việc khác; tham gia hướng dẫn, làm cố vấn
khoa học cho một số đề án điều tra địa chất, khoáng sản.
5. Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội: có tập thể giáo sư, giảng viên, có
thực hiện và tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu về địa chất, kiến tạo và địa chất
biển, có một số thiết bị phân tích mẫu.
6. Trường Đại học Khoa học tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học
Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh: có một số giáo sư, giảng viên về lĩnh vực địa chất,
khoáng sản. Ngoài công việc giảng dạy, có tham gia thực hiện một số đề tài nghiên
cứu về môi trường địa chất, tai biến địa chất.
Trong các trường Đại học hiện có các trung tâm tham gia thực hiện các đề tài
nghiên cứu, tham gia thực hiện các nhiệm vụ điều tra cơ bản, các dịch vụ địa chất và
phân tích mẫu.
7. Các doanh nghiệp thăm dò khoáng sản trong các doanh nghiệp khai khoáng
có năng lực thăm dò tương đối mạnh như Công ty Địa chất - Mỏ thuộc Tập đoàn Than
và Khoáng sản, Công ty khảo sát tư vấn Bộ Xây dựng.
8. Một số doanh nghiệp khảo sát, khai thác khoáng sản của một số tỉnh thực
hiện các nhiệm vụ khảo sát địa chất, thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông
thường.
I.2. Các nhiệm vụ chủ yếu trong nghiên cứu, điều tra địa chất cơ bản địa
chất và tài nguyên khoáng sản
Trước năm 1991, các đơn vị địa chất thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, điều
tra lập bản đồ địa chất - khoáng sản, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình các tỷ lệ từ
nhỏ đến 1:50.000; tìm kiếm, thăm dò khoáng sản rắn, dầu khí; điều tra, thăm dò nước
dưới đất, nước khoáng, nước nóng bằng kinh phí Nhà nước trong đó kinh phí cho tìm
kiếm, thăm dò khoáng sản rắn, dầu khí chiếm tỷ lệ lớn.
Sau năm 1991, các đơn vị địa chất được tổ chức lại và chỉ thực hiện các nhiệm
vụ điều tra cơ bản về địa chất và tài nguyên khoáng sản bằng kinh phí Nhà nước. Cụ
thể là thực hiện các nhóm nhiệm vụ sau đây:
1. Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản trong các lĩnh vực về địa chất, tài
nguyên khoáng sản, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, địa mạo, môi trường địa chất,
tai biến địa chất; tổng hợp, biên tập xuất bản ấn phẩm về địa chất, khoáng sản.
2. Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản gồm:
- Điều tra lập bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000;
- Điều tra đánh giá tiềm năng tài nguyên khoáng sản;
- Bay đo địa vật lý máy bay;
- Điều tra địa chất, tài nguyên khoáng sản biển để thành lập loạt bản đồ địa
chất, môi trường địa chất, trọng sa, địa hoá, trầm tích tầng mặt, địa mạo, môi trường
phóng xạ … tỷ lệ 1:500.000 đến 1:50.000.
3. Điều tra địa chất thuỷ văn - địa chất công trình
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 7
- Điều tra, lập bản đồ địa chất thuỷ văn - địa chất công trình tỷ lệ 1:200.000 và
lớn hơn;
- Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất, nước khoáng, nước nóng.
4. Điều tra môi trường địa chất, tai biến địa chất
- Điều tra, xác định các diện tích có nguy cơ xảy ra tai biến địa chất; các diện
tích có môi trường địa chất ảnh hưởng tiêu cực đến dân sinh;
- Quan trắc động thái nước dưới đất tại ba mạng quan trắc tại đồng bằng Bắc
Bộ, đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên.
I.3. Các kết quả chủ yếu
I.3.1. Nghiên cứu, tổng hợp, xuất bản
1.1. Trong các năm 1991- 2007: đã hoàn thành 97 báo cáo kết quả nghiên cứu
các đề tài trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản thực hiện bằng kinh phí sự nghiệp địa
chất, trong đó tập trung vào:
- Nghiên cứu để chuẩn hoá các thông tin về các phân vị địa chất (địa tầng,
magma).
- Nghiên cứu cấu trúc địa chất và đặc điểm sinh khoáng trên cả nước ở tỉ lệ
1:1.000.000 và của các vùng, các cấu trúc địa chất cụ thể như Tây Bắc Bắc Bộ, Đông
Bắc Bắc Bộ, đới Lô Gâm, đới Quảng Nam, đới Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và đới Đà
Lạt ở tỉ lệ 1:200.000 và các đới cấu trúc nhỏ hơn như Tú Lệ, Po Kô, Rào Nậy... ở tỉ lệ
lớn hơn, góp phần quan trọng cho việc định hướng điều tra phát hiện mỏ.
- Nghiên cứu môi trường địa chất, tai biến địa chất, địa chất karst, địa hoá trong
môi trường đất và nước, đã đưa ra các nhận định về nguyên nhân địa chất và đề xuất
các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
- Các nghiên cứu để xây dựng các quy trình kỹ thuật, quy trình phân tích mẫu,
ứng dụng thử nghiệm các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Ngoài ra, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản và một số Liên đoàn cũng đã
hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học - công nghệ cấp Bộ tập trung vào các nhóm
vấn đề:
- Khai thác sử dụng các phần mềm xử lý số liệu trong điều kiện địa chất Việt
Nam.
- Ứng dụng các tiến bộ khoa học mới trong địa vật lý, viễn thám, tin học.
- Cải tiến, sáng chế các thiết bị khoan, đo địa vật lý và một số vấn đề khác.
I.3.2. Công tác tổng hợp, biên tập và xuất bản bản đồ, các ấn phẩm được đầu tư
không đáng kể. Trong các năm 1991 - 2007 đã xuất bản được loạt bản đồ địa chất tỷ lệ
1:200.000 kèm theo thuyết minh trên lãnh thổ toàn quốc; bản đồ tài nguyên khoáng
sản tỷ lệ 1:1.000.000 và Chuyên khảo kèm theo; bản đồ các trầm tích Đệ tứ và vỏ
phong hoá tỷ lệ 1:1.000.000, bản đồ địa chất Việt Nam-Lào-Campuchia và nhiều bản
đồ chuyên đề khác nhau như sinh khoáng, kiến tạo, Đệ tứ, vỏ phong hoá, bản đồ
trường từ, trường phóng xạ, trọng lực… xác định được đặc điểm sinh khoáng của hầu
hết các đới, vùng cấu trúc trên lãnh thổ Việt Nam.
I.3.3. Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 8
Đến nay, trên toàn bộ lãnh thổ đã hoàn thành điều tra, thành lập, xuất bản, phát
hành rộng rãi các bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:500.000 và 1:200.000, đáp ứng
nhu cầu của nhiều ngành kinh tế, xã hội, hợp tác quốc tế và kêu gọi đầu tư.
Công tác điều tra lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 đã hoàn thành
trên diện tích 184.000 km2, chiếm 55,7% phần đất liền, gồm hầu hết các diện tích các
tỉnh đông bắc Bắc Bộ, trung du Bắc Bộ, ven biển Trung Bộ, hầu hết các thành phố, thị
xã, phần lớn diện tích tây bắc Bắc Bộ, một phần diện tích Tây Nguyên và Nam Bộ.
Hiện nay đang thực hiện 10 đề án với diện tích 23.954 km2 rải khắp các khu vực Bắc -
Trung - Nam.
Trước năm 1990, toàn bộ diện tích lãnh thổ đã được bay đo địa vật lý ở tỷ lệ 1:
200.000. Công tác bay đo từ, xạ phổ gama tỷ lệ 1:50.000 - 1:25.000 đã hoàn thành trên
diện tích 64.200 km2, chủ yếu tập trung ở vùng miền Trung Việt Nam. Một số vùng đã
được đo trọng lực ở tỷ lệ 1:100.000
Công tác điều tra, lập bản đồ địa chất các tỷ lệ khác nhau đã làm rõ được các
đặc điểm cơ bản, lịch sử hình thành và biến cải của các cấu trúc địa chất, đặc điểm
phân bố khoáng sản trong các thành tạo địa chất và trong các cấu trúc địa chất khác
nhau, khoanh định được nhiều vùng có dấu hiệu khoáng sản, có triển vọng khoáng sản
cần được đánh giá tiềm năng hoặc thăm dò.
Các kết quả điều tra đó đã có những đóng góp quan trọng trong việc định hướng
phát triển kinh tế - xã hội của các vùng miền, là cơ sở khoa học để tìm kiếm, thăm dò
khoáng sản, đóng góp quan trọng trong nghiên cứu, điều tra địa chất Lào, Campuchia
và Đông Nam Á nói chung. Các kết quả này đã được các nhà địa chất nước ngoài và
các tổ chức quốc tế đánh giá cao, được Nhà nước và Chính phủ ghi nhận bằng các
phần thưởng và giải thưởng cao quý.
Điều tra địa chất, khoáng sản biển mới được bắt đầu từ năm 1992. Đến nay đã
hoàn thành công tác điều tra địa chất, địa hoá, khoáng sản, môi trường vùng ven bờ
đến 30m nước trên diện tích 97.430 km2 ở tỷ lệ 1:500.000, điều tra ở tỷ lệ 1:100.000 -
1:50.000 trên một số vùng biển ven bờ tại Nam Trung Bộ và đang thực hiện đề án
tương tự ở vùng biển Sóc Trăng và đang triển khai thực hiện dự án điều tra địa chất,
khoáng sản, tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam do Chính phủ giao.
I.3.4. Điều tra, thăm dò khoáng sản
Trước năm 1990, các đơn vị địa chất đã tìm kiếm, thăm dò nhiều vùng mỏ,
điểm khoáng sản như than đá, quặng sắt, đồng, thiếc, chì-kẽm, bauxit, đất hiếm, apatit,
graphit, đá vôi xi măng, kaolin, felspat, đất sét. Hầu hết các mỏ đã được chuyển giao
cho các doanh nghiệp khai thác, chế biến.
Từ năm 1990, các đơn vị địa chất của Nhà nước chỉ thực hiện các nhiệm vụ
điều tra lập bản đồ địa chất khoáng sản, nghiên cứu chuyên đề, điều tra đánh giá tiềm
năng khoáng sản, và đã hoàn thành 209 báo cáo địa chất trên các vùng quặng, điểm
quặng khác nhau chứa đa dạng các loại khoáng sản. Trong đó có các điểm vàng gốc -
sa khoáng, thiếc gốc, chì kẽm, đồng, antimon, uran, ilmenit, kaolin, felspat, barit,
graphit, magnezit, đá vôi sạch, đá vôi ốp lát, đá phiến lợp, nguyên liệu làm xi măng và
đá quý.
Trong giai đoạn này, công tác thăm dò các mỏ khoáng chủ yếu tập trung vào
các mỏ đá, cát xây dựng, đá ốp lát, sét và đá vôi làm nguyên liệu xi măng, nước nóng -
nước khoáng. Ngoài ra, Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam đã thăm dò mỏ bauxit
Tây Tân Rai; Tổng Công ty Than Việt Nam đã thăm dò than tại bãi thải nam Cọc Sáu,
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 9
mỏ than Kế Bào; Tổng Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam thăm dò và khai thác một
số mỏ đá quý.
Kết quả điều tra, thăm dò cho thấy ở Việt Nam có đa dạng các loại khoáng sản
nhưng hầu hết các mỏ có quy mô không lớn, phân bố rải rác, một số mỏ có điều kiện
khai thác khó khăn hoặc chất lượng khoáng sản thấp.
Theo trữ lượng và tài nguyên đã được điều tra, thăm dò, các loại khoáng sản
được chia thành 3 nhóm sau:
1. Khoáng sản có quy mô lớn, có thể khai thác lâu dài và xuất khẩu gồm:
bauxit, đất hiếm, đá vôi, cát thuỷ tinh, đá xây dựng.
2. Khoáng sản có tổng tài nguyên không lớn, đủ để khai thác sử dụng trong
nước trong thời gian hạn chế gồm: than đá, quặng sắt, titan, crom, mangan, đồng,
thiếc, chì kẽm, wolfram, vàng, antimon, felspat, kaolin, talc, fluorit, barit, graphit,
dolomit, photsphorit, bentonit, diatomit, magnezit, đá ốp lát các loại.
3. Khoáng sản mới ghi nhận được các dấu hiệu, nhưng chưa phát hiện được mỏ
như: platin, tantan, niobi, liti, volastonit, zeolit, keramzit, vecmiculit, nephelin.
Một số doanh nghiệp nước ngoài đã được cấp phép thăm dò quặng vàng, đồng,
nikel, wolfram theo Luật Khoáng sản hoặc Luật Đầu tư nước ngoài. Kết quả là đã
thăm dò xác định trữ lượng khoáng sản ở các mỏ vàng Bồng Miêu, Phước Sơn,
wolfram - đa kim Núi Pháo, nhưng đến nay việc khai thác khoáng sản trên cơ sở các
kết quả thăm dò đó còn rất chậm. Nhiều dự án thăm dò đã dừng do không xác định
được trữ lượng đủ lớn cho các dự án khai thác.
I.3.5. Công tác điều tra địa chất thuỷ văn - địa chất công trình (ĐCTV-ĐCCT),
nguồn nước dưới đất
Điều tra ĐCTV tỉ lệ 1:200.000 đã hoàn thành 240.930 km2, tạo cơ sở khoa học cho
việc định hướng điều tra thăm dò, khai thác nước dưới đất (NDĐ) ở các địa bàn quan
trọng như đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên và các đô thị, khu dân cư
ven biển.
Đến nay điều tra ĐCTV- ĐCCT tỉ lệ 1:50.000 - 1:25.000 đã hoàn thành trên diện
tích 32.016 km2. Kết quả điều tra đã xác định rõ đặc điểm phân bố trữ lượng, chất lượng
các tầng chứa NDĐ và đặc điểm thuỷ địa hoá của chúng, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho
tìm kiếm thăm dò nước dưới đất và quy hoạch khai thác, bảo vệ nguồn nước trên lãnh thổ
Việt Nam, đặc biệt là tại đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên.
Đã điều tra đánh giá nguồn NDĐ cho 25 khu vực có nhu cầu lớn và 104 điểm
dân cư, thị trấn thuộc các vùng núi phía Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, vùng sâu vùng
xa Nam Bộ gặp nhiều khó khăn về nước sinh hoạt. Kết quả là trong hầu hết các khu
vực điều tra đã phát hiện các nguồn nước sạch đưa vào sử dụng. Đã điều tra nguồn
nước trên 14 đảo với tổng trữ lượng NDĐ cấp C1 đạt 10.680 m3/ng, tạo điều kiện cho
phát triển kinh tế và phục vụ lực lượng bảo vệ an ninh quốc phòng.
Kết quả điều tra nước đã góp phần xây dựng các dự án cấp nước từ nguồn NDĐ
ở ngoại vi Hà Nội, TP HCM, Nha Trang, Huế, Phúc Yên và nhiều điểm, cụm dân cư.
Trong các năm qua, các đơn vị của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã hoàn
thành một số Chương trình, đem lại được hiệu quả cao như Chương trình điều tra địa
chất đô thị, điều tra nguồn nước tại các đảo trên toàn lãnh thổ Việt Nam; điều tra, đánh
giá nguồn nước dưới đất phục vụ dân sinh 7 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 10
và 5 tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, các vùng sâu, vùng xa
đồng bằng Nam Bộ.
Ba mạng quan trắc quốc gia động thái NDĐ đã được xây dựng và tiến hành quan
trắc liên tục đến nay. Các tài liệu quan trắc công bố hằng năm làm cơ sở tốt cho việc
quản lý, khai thác NDĐ, phòng chống ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước.
I.3.6. Điều tra địa chất đô thị
Đã điều tra, thành lập bộ tài liệu đồng bộ về địa chất, khoáng sản, ĐCTV, ĐCCT,
địa chất môi trường, quy hoạch sử dụng đất cho 57 đô thị loại I, II, III, 3 khu vực phát
triển kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà -
Vũng Tàu, Đà Nẵng - Dung Quất. Các tài liệu này đã và đang được khai thác, sử
dụng cho việc quy hoạch và quản lý đô thị.
I.3.7. Điều tra môi trường địa chất và tai biến địa chất
Đã điều tra tổng thể môi trường địa chất, các biểu hiện tai biến địa chất, lập
bản đồ tai biến địa chất, môi trường địa chất tỷ lệ 1:200.000 ở các vùng Nam Trung
Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ,
kết quả là đã xác định được các loại tai biến địa chất đã xảy ra và có nguy cơ xảy ra,
khoanh định các diện tích có nguy cơ xảy ra tai biến địa chất; đã xác định được các
vùng có dị thường địa hoá của các nguyên tố độc hại, dị thường địa vật lý như bức xạ
tự nhiên, dị thường từ, dị thường thuỷ địa hoá có tác động tiêu cực đến dân sinh.
Chương II
TỔ CHỨC ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
TRONG NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT
VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
II.1. Thành phần chủ yếu của năng lực công nghệ trong nghiên cứu, điều
tra cơ bản địa chất và tài nguyên khoáng sản
Đối tượng điều tra địa chất khoáng sản là các thành tạo địa chất, khoáng sản rất
đa dạng và phức tạp, chỉ lộ rải rác trên mặt đất, còn hầu hết đều phân bố trong lòng đất.
Để xác định tên gọi, nguồn gốc thành tạo, ý nghĩa sử dụng hoặc các thông tin
khác đều cần thiết phân tích bằng các phương pháp khác nhau.
Để tiếp cận chúng và lấy mẫu vật, cần đầu tư các công trình khoan đào. Trong
các trường hợp không có khả năng tiếp cận trực tiếp, cần sử dụng các phương pháp địa
vật lý để tìm kiếm gián tiếp các thành tạo trong lòng đất.
Năng lực công nghệ trong điều tra địa chất khoáng sản là tập hợp các phương
pháp, quy trình, kỹ năng, phương tiện dùng để thu thập các thông tin cần thiết đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Trên cơ sở thực tế điều tra địa chất khoáng sản trong các năm qua ở Việt Nam
cũng như tại các nước khác, thành phần chủ yếu để tạo nên năng lực công nghệ trong
điều tra địa chất khoáng sản là:
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 11
1- Thiết bị để thực hiện các phương pháp điều tra tại thực địa, phân tích mẫu
vật, xử lý số liệu và biểu diễn tài liệu.
2- Quy trình, quy định kỹ thuật và kỹ năng để thực hiện điều tra và sử dụng
thiết bị.
3- Năng lực lao động thực hiện công tác điều tra.
Để đánh giá hiện trạng năng lực công nghệ trong điều tra địa chất khoáng sản,
trong báo cáo này sẽ tập trung đánh giá:
- Trình độ công nghệ thiết bị,
- Năng lực lao động,
- Quy trình, quy định kỹ thuật,
- Chất lượng sản phẩm của hoạt động điều tra cơ bản.
Phương pháp đánh giá là tự đánh giá, so sánh với các nước khối ASEAN và
một số nước phát triển.
II.2. Tổ chức điều tra và phương thức đánh giá năng lực công nghệ
II.2.1. Tổ chức điều tra
Để thực hiện nhiệm vụ đánh giá năng lực công nghệ trong điều tra địa chất
khoáng sản, nhóm thực hiện đề tài đã sử dụng phương pháp tự đánh giá và so sánh
theo trình tự như sau:
+ Các đơn vị địa chất tự đánh giá thiết bị và năng lực lao động, lập báo cáo
đánh giá trình độ năng lực công nghệ của đơn vị mình. Các báo cáo này đã được sử
dụng để khảo sát, đối chiếu tại các đơn vị và hiện nay được tập hợp thành một quyển
Các báo cáo về trình độ công nghệ của các đơn vị như tài liệu có giá trị cao.
+ Nhóm thực hiện đề tài khảo sát thực tế, đánh giá cụ thể hiện trạng các thiết bị
năng lực công nghệ và lập các báo cáo, kết quả khảo sát tại 10 đơn vị địa chất:
- Liên đoàn Địa chất Đông Bắc
- Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam
- Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Bắc
- Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Trung
- Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Nam
- Liên đoàn Intergeo
- Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm
- Liên đoàn Vật lý địa chất
- Liên đoàn Địa chất biển
- Trung tâm Phân tích thí nghiệm Địa chất.
So với thuyết minh đề tài, chưa khảo sát hai đơn vị là các Liên đoàn Trắc địa -
Địa hình và Liên đoàn BĐĐC miền Bắc do một số thành viên của tổ thực hiện đề tài
đã có nhiều năm làm việc tại các đơn vị nêu trên, đã nắm chắc các loại thiết bị và năng
lực chuyên môn của các đơn vị. Hơn nữa, trong các tháng cuối năm 2007 các máy trắc
địa đang thực hiện đo đạc tại thực địa, còn dự án tăng cường năng lực thiết bị của LĐ
BĐĐC miền Bắc vừa mới phê duyệt đấu thầu chưa có thiết bị mới.
Tại Viện KH ĐC và KS nhóm tác giả đề tài là TS Nguyễn Linh Ngọc và TS
Mai Trọng Tú đã thống kê, đánh giá chi tiết trình độ năng lực thiết bị và năng lực lao
động kỹ thuật.
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 12
Ngoài ra, nhóm thực hiện đề tài đã khảo sát Trung tâm viễn thám của Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội.
Nhóm chuyên viên khảo sát là những cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có
nhiều năm kinh nghiệm trong thực hiện các đề án và quản lý kỹ thuật. Trước khi khảo
sát tổ thực hiện đề tài đã chuẩn bị rõ các yêu cầu khảo sát, tìm hiểu. Kết quả khảo sát
thể hiện trong các báo cáo đối với từng đơn vị. Toàn bộ các báo cáo này được tập hợp
thành một tập tài liệu Các kết quả khảo sát đánh giá trình độ công nghệ tại các
đơn vị địa chất.
+ Nhóm thực hiện đề tài phân tích, tổng hợp, đánh giá trình độ công nghệ của
thiết bị, năng lực cán bộ, kỹ năng thực hiện quy trình ở các đơn vị địa chất thành lập
11 Báo cáo chuyên đề theo các nhóm phương pháp và các lĩnh vực điều tra, công
tác nghiên cứu tại Viện KHĐC và KS.
+ Tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước, trong đó chủ yếu từ các Website
của các Sở Địa chất của các nước như: Mỹ, Úc, Phần Lan, Nhật Bản.
+ Phân tích, đánh giá hiện trạng năng lực công nghệ tại các đơn vị, làm rõ các
mặt mạnh, yếu của các loại thiết bị, kỹ năng sử dụng, mức độ áp dụng, sự đầy đủ của
các quy trình kỹ thuật, năng lực lao động.
+ Phương thức đánh giá trình độ năng lực công nghệ
Trình độ năng lực công nghệ sẽ được đánh giá theo:
a. Trình độ công nghệ thiết bị đang được sử dụng.
b. Năng lực lao động sử dụng thiết bị và tạo nên các sản phẩm, kết quả điều tra.
c. Hệ thống thông tin khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, điều tra.
d. Kết quả, hiệu quả, chất lượng của các sản phẩm nghiên cứu, điều tra.
Hiện trạng thiết bị được khảo sát, đánh giá theo số liệu kiểm kê thực tế tại 0 giờ
ngày 1/1/2007.
II.2.2. Hệ tiêu chí đánh giá các nhóm thiết bị
Các thiết bị sử dụng trong các phương pháp điều tra địa chất hoặc có các nhiệm
vụ khác nhau được phân chia thành các nhóm:
1. Các máy đo trắc địa
2. Tư liệu viễn thám và thiết bị, phần mềm xử lý tài liệu
3. Các máy địa vật lý
4. Các máy khoan, bơm hút nước
5. Các thiết bị quan trắc
6. Các thiết bị phân tích mẫu
7. Các thiết bị và phần mềm tin học
Để đánh giá trình độ công nghệ của các nhóm thiết bị nêu trên, tập thể thực hiện
đề tài đã lựa chọn các hệ thống tiêu chí và điểm tối đa trên cơ sở tham khảo tính năng
các thiết bị đang được các hãng của các nước phát triển sản xuất. Các tiêu chí và điểm
đánh giá trình bày dưới đây:
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 13
+ Đối với thiết bị phân tích mẫu địa chất:
Các thiết bị PTTN đã được đánh giá theo các tiêu chí nêu ở bảng II.1
Bảng II.1. Các tiêu chí đánh giá thiết bị PTTN
Tiêu chí Điểm tối đa
Tên máy, thiết bị
Thông tin chung Có chứng chỉ ISO 10
(điểm tối đa- 20) Năm sản xuất 5
Thời gian sử dụng 5
Hệ thống điều khiển tự động 10
Tính năng thiết bị
Độ nhậy 20
(điểm tối đa- 20)
Sai số 20
Kiểm định thiết bị 5
Hiện trạng thiết bị Quy trình vận hành 10
(điểm tối đa- 20) Điều kiện bảo quản 5
Cán bộ vận hành được đào tạo đúng chuyên môn 10
Đánh giá chung 100 điểm
Đối với các máy định vị GPS:
a. Theo độ chính xác (điểm tối đa-90):
- Máy có độ chính xác xác định vị trí điểm ≥ 1m: 35 điểm
- Máy có độ chính xác xác định vị trí điểm < 1m: 55 điểm
b. Theo khả năng kết nối, đồng bộ với các thiết bị liên quan:
- Có: 10 điểm
- Không có: 0 điểm
Đối với máy toàn đạc điện tử: (điểm tối đa-100):
a. Theo độ chính xác: 80 điểm
- Máy có độ chính xác đo góc ≤ ± 5”: 30 điểm
- Máy có độ chính xác đo góc > ± 5”: 20 điểm
- Máy có độ chính xác đo cạnh ≥ ± 5mmm + 2ppm: 10 điểm
- Máy có độ chính xác đo cạnh < ±5mmm: 20 điểm
b. Theo khả năng đo chiều dài cạnh tối đa: 20 điểm
- Chiều dài cạnh đo ≤ 3000m: 5 điểm
- Chiều dài cạnh đo > 3000m: 15 điểm
Công nghệ thành lập bản đồ địa hình các loại: ( điểm tối đa -100 điểm).
- Công nghệ phối hợp (truyền thống kết hợp số): 20 điểm
- Công nghệ số: 50 điểm
- Phầm mềm có bản quyền: 10 điểm
- Phầm mềm trôi nổi: 10 điểm
Đối với các thiết bị địa vật lý đánh giá theo các tiêu chí sau đây:
- Hãng, nước sản xuất: (tối đa- 20 điểm, trong đó hãng máy địa vật lý
thuộc các nước công nghiệp phát triển: 20, Nga: 15, Trung Quốc: 10, Việt
Nam: 5).
- Thời gian sử dụng: (tối đa-15 điểm: <5năm: 15, 5-10 năm: 10,
>10 năm: 5)
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 14
- Dạng ghi số liệu (tối đa-20 điểm: Ghi số tự động: 20; bán tự động: 15,
Thủ công, tương tự: 5).
- Phần mềm (tối đa-10 điểm: Có: 10, Không: 0.
- Tính đồng bộ (tối đa-20 điểm: Đồng bộ: 20, Không: 10.
- Hiện trạng hoạt động (tối đa-15 điểm: Tốt: 15, Đã thay thế sửa chữa:
10, Sửa chữa thay thế nhiều lần: 5).
Điểm đánh giá tối đa là 100 điểm
Đối với các thiết bị khoan đánh giá theo các tiêu chí sau đây:
- Xuất xứ (tối đa-10 điểm)
- Năm sản xuất, thời gian, mức độ sử dụng (tối đa-10 điểm)
- Khả năng tự động hoá (tối đa-20 điểm)
- Tính đồng bộ, ổn định của máy khoan (tối đa-40 điểm)
- Tiêu hao nhiên liệu, công suất khoan, khả năng vận chuyển (tối đa-10
điểm)
- Khả năng ứng dụng các các công nghệ khoan, các dụng cụ khoan và
lấy mẫu khác nhau(tối đa-10 điểm)
Tổng số điểm tối đa là 100 điểm.
Đối với các máy bơm hút nước đánh giá theo các tiêu chí sau đây:
- Xuất xứ và năm sản xuất (tối đa-10 điểm)
- Khả năng bơm hút, độ sâu, công suất, đường kính lỗ khoan (tối đa-10
điểm)
- Khả năng ổn định lưu lượng và áp lực (tối đa-50 điểm)
- Khả năng tự động hoá (tối đa-20 điểm)
-Tiêu hao nhiên liệu(tối đa-10 điểm)
Tổng số điểm tối đa là 100 điểm.
Theo tổng số điểm đánh giá, các thiết bị được phân chia thành:
1. Thuộc trình độ công nghệ tiên tiến: ≥ 65 điểm
2. Thuộc trình độ công nghệ trung bình: 40 - 65 điểm
3. Thuộc trình độ công nghệ thấp: ≤ 40 điểm
Trên cơ sở đánh giá các thiết bị nêu trên, tập thể thực hiện đề tài đã đánh giá
năng lực công nghệ của các nhóm thiết bị, trong đó nêu rõ 3 yếu tố: trình độ công
nghệ; quy trình, kỹ năng sử dụng thiết bị và mức độ thiếu, đủ thiết bị so với nhu cầu
thực hiện nhiệm vụ địa chất.
Chất lượng sử dụng hiện nay của các thiết bị được đánh giá theo mức tốt,
trung bình và kém.
Đối với lực lượng lao động sẽ đánh giá dựa trên trình độ dược đào tạo kết hợp
với trình độ chuyên môn thực tế, trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học và tuổi đời.
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 15
Chương III
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
TRONG NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT
VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
III.1. Hiện trạng trình độ công nghệ các phương pháp điều tra
III.1.1. Trong công tác trắc địa phục vụ các nhiệm vụ điều tra địa chất,
khoáng sản
III.1.1.1. Nhiệm vụ của phương pháp trắc địa:
a. Chuẩn bị nền địa hình và xác định vị trí đối tượng khảo sát phục vụ cho công
tác đo vẽ bản đồ địa chất, điều tra khoáng sản, bản đồ địa chất thuỷ văn, địa chất công
trình các loại, gồm biên tập, can vẽ nhân bản, đưa các đối tượng địa chất lên bản đồ,
đưa vị trí công trình điều tra ra thực địa; tại các khu vùng công tác có các tài liệu địa
hình quá cũ hoặc vùng có tốc độ phát triển dân sinh lớn mà tài liệu địa hình của ngành
trắc địa của Nhà nước cung cấp chưa kịp cập nhật thông tin thì thực hiện công việc đo
bổ sung và hiện chỉnh bản đồ cho phù hợp với thực địa để sử dụng có hiệu quả.
b. Thành lập lưới khống chế mặt phẳng, độ cao khu vực, đo vẽ bản đồ địa hình tỷ
lệ lớn, đo đạc trắc địa công trình địa chất phục vụ cho các đề án tìm kiếm, đánh giá, thăm
dò địa chất và các nhiệm vụ nghiên cứu điều tra địa chất khác, cụ thể là:
- Tăng dày các mạng lưới khống chế khu vực và lưới đo vẽ để thành lập bản đồ
địa hình và xác định vị trí công trình địa chất;
- Thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25 000 cho các đô thi trong chương trình
điều tra địa chất đô thị, tỉ lệ 1/10 000 và lớn hơn, sơ đồ ảnh và bình đồ ảnh các vùng
điều tra đánh giá tiềm năng khoáng sản.
- Đưa từ thiết kế ra thực địa và ngược lại vị trí các công trình điều tra, thăm dò,
lấy mẫu, quan trắc, các tuyến điều tra, thăm dò.
c. Riêng đối với công tác trắc địa biển thì nhiệm vụ chủ yếu là: định vị, dẫn
đường, đo độ sâu trên tuyến khảo sát địa vật lý và tại các điểm lấy mẫu địa chất; thành
lập bản đồ tuyến địa vật lý, bản đồ độ sâu đáy biển và mặt cắt địa hình đáy biển.
Số lượng công việc trắc địa chủ yếu thực hiện trong năm 2007 phục vụ các
nhiệm vụ địa chất do Bộ TN và MT giao gồm:
- Đo giải tích hạng I - 32 điểm,
- Đo đa giác hạng II - 135 điểm
- Đo vẽ lập bản đồ địa hình tỉ lệ 1/10000 -104 km2
- Đo vẽ lập bản đồ địa hình tỉ lệ 1/5000 -14 km2
- Đo vẽ lập bản đồ địa hình tỉ lệ 1/2000 -3 km2
- Đo vẽ lập bản đồ độ sâu đáy biển tỉ lệ 1/100 000 - 7261 km2
- Đo vẽ lập bản đồ độ sâu đáy biển tỉ lệ 1/50000 - 345 km2
III.1.1.2. Hiện trạng các máy trắc địa trong các đơn vị địa chất.
Các máy thiết bị chủ yếu hiện đang được sử dụng tại các đơn vị địa chất trình
bày trong bảng III.1; III.2.
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 16
Như vậy, hiện nay có 12 máy GPS một tần số, 6 GPS hiệu chỉnh vi phân và
Beacon có công nghệ tiên tiến tập trung ở các Liên đoàn TĐ-ĐH, VLĐC, Biển và
ĐCTV-ĐCCT MT, MN; 27 máy toàn đạc điện tử công nghệ tiên tiến và 6 máy kinh vĩ,
thuỷ chuẩn thông thường thuộc công nghệ trung bình. 157 chiếc GPS cầm tay (trong
đó có 117 chiếc sử dụng dưới 7 năm) sử dụng trong 12 Liên đoàn. Chúng được sử
dụng rộng rãi và hiệu quả hơn cả ở các Liên đoàn BĐĐC MN, Xạ Hiếm và Biển.
Như vậy, hầu hết các thiết bị trắc địa của các đơn vị địa chất đạt mặt bằng công
nghệ, thiết bị của các đơn vị đo đạc bản đồ địa hình điều tra cơ bản địa chất trong
ngoài Bộ TN và MT, ở mức tiên tiến so với các nước Đông Nam Á.
Bảng: III.1. Hiện trạng thiết bị trắc địa tại các đơn vị địa chất
Năm Đánh giá
Số Chủng loại Hãng và đưa trình độ
Địa chỉ sử dụng
TT Tên máy nước sản xuất vào sử công
dụng nghệ
I. Máy GPS loại 1 tần số:
1 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến LĐ Trắc địa Địa hình
2 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
3 GPS R3 Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
4 GPS R3 Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
5 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 1999 Tiên tiến LĐ Vật lý Địa chất
6 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 1999 Tiên tiến -nt-
7 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
8 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
9 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
10 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2004 Tiên tiến LĐ Địa chất biển
11 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2004 Tiên tiến -nt-
12 GPS 4600LS Trimble (Mỹ) 2004 Tiên tiến -nt-
II. Máy GPS Beacon, GPS hiệu chỉnh vi phân:
13 GPS DSL232 Trimble (Mỹ) 2007 Tiên tiến LĐ Trắc địa Địa hình
14 GPS DSL232 Trimble (Mỹ) 2007 Tiên tiến -nt-
15 GPS DSL232 Trimble (Mỹ) 2006 Tiên tiến LĐ Địa chất biển
16 GPS GeoExplorer 3c Trimble (Mỹ) 2003 Tiên tiến LĐĐCTV-ĐCCT miền Trung
17 GPS II Plus Đài Loan 1999 Trung LĐ ĐCTV-ĐCCT miền Nam
bình
18 GPS Pathfider Trimble (Mỹ) 1996 Trung LĐ Vật lý Địa chất
PROXL bình
III. Máy toàn đạc điện tử:
19 TC-305, 405 Leica (Thuỵ Sỹ) 2003 Tiên tiến LĐ Trắc địa Địa hình
20 TC-307, 407 Leica (Thuỵ Sỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
21 TC-600, 605 Leica (Thuỵ Sỹ) 2002 Tiên tiến -nt-
22 TC-700 Leica (Thuỵ Sỹ) 1999 Tiên tiến LĐ Địa chất Đông Bắc
23 TC-705 Leica (Thuỵ Sỹ) 2002 Tiên tiến -nt-
24 TC-407 Leica (Thuỵ Sỹ) 2007 Tiên tiến -nt-
25 TC-605 Leica (Thuỵ Sỹ) 1998 Tiên tiến LĐ Địa chất Tây Bắc
26 TC-705 Leica (Thuỵ Sỹ) 2002 Tiên tiến -nt-
27 TC-407 Leica (Thuỵ Sỹ) 2006 Tiên tiến -nt-
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 17
Năm Đánh giá
Số Chủng loại Hãng và đưa trình độ
Địa chỉ sử dụng
TT Tên máy nước sản xuất vào sử công
dụng nghệ
28 TC-605 Leica (Thuỵ Sỹ) 1999 Tiên tiến LĐ Địa chất Trung Trung Bộ
29 TC-305 Leica (Thuỵ Sỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
30 TC-405 Leica (Thuỵ Sỹ) 2006 Tiên tiến -nt-
31 Pentax R-300X Nhật Bản 2006 Tiên tiến -nt-
32 GTS 512 Nhật Bản 1999 Tiên tiến LĐ ĐCTV-ĐCCT miền Nam
33 GTS 223 Nhật Bản 2003 Tiên tiến -nt-
34 GST226 Nhật Bản 2003 Tiên tiến -nt-
35 TC-305 Leica (Thuỵ Sỹ) 2004 Tiên tiến Liên đoàn Địa chất biển
36 TC-600 Leica (Thuỵ Sỹ) 1998 Tiên tiến LĐ Địa chất Xạ - Hiếm
37 TC-705 Leica (Thuỵ Sỹ) 2003 Tiên tiến -nt-
38 TC-407 Leica (Thuỵ Sỹ) 2005 Tiên tiến -nt-
39 TC-400 Leica (Thuỵ Sỹ) 1997 Tiên tiến LĐ Địa chất
40 TC-305 Leica (Thuỵ Sỹ) 2003 Tiên tiến Bắc Trung Bộ
41 TC-407 Leica (Thuỵ Sỹ) 2006 Tiên tiến -nt-
42 TC-405 Leica (Thuỵ Sỹ) 2005 Tiên tiến -nt-
43 SET 310 Nhật Bản 2002 Tiên tiến LĐ Intergeo
44 SET 2CII Nhật Bản 1998 Tiên tiến -nt-
45 SET 210K Nhật Bản 2003 Tiên tiến -nt-
IV. Máy kinh vĩ, thuỷ chuẩn thông thường:
46 Máy 2T2 Nga 1997 Trung bình LĐ Địa chất Đông Bắc
47 Máy T5 Nga 1996 Trung bình -nt-
48 Máy thuỷ chuẩn Nhật Bản 1999 Trung bình LĐ ĐCTV-ĐCCT miền Nam
Topcon ATG3
49 Máy thuỷ chuẩn Thuỵ Sỹ 1998 Trung bình -nt-
NA-820
50 Máy THEO 20B, CHLB Đức 1992 LĐ Địa chất Bắc Trung Bộ
THE0 010B
51 Máy 3T5K Nga 1995 Trung bình -nt-
Bảng: III.2. Số lượng máy GPS cầm tay trong các đơn vị địa chất
ĐVT: cái
Số Trong đó thời gian sử dụng
Địa chỉ sử dụng Số lượng
TT < 7năm > 7năm
1 LĐĐC Đông Bắc 7 4 3
2 LĐĐC Tây Bắc 6 6
3 LĐĐC Bắc Trung Bộ 14 14
4 LĐĐC Trung Trung Bộ 13 13
5 Liên đoàn Xạ hiếm 11 9 2
6 Liên đoàn Intergeo 13 7 6
7 Liên đoàn Vật lý địa chất 14 12 2
Báo cáo đánh giá trình độ công nghệ 18