Báo cáo thống kê về dự án kinh doanh cửa hàng 24h

  • 23 trang
  • file .doc
BÁO CÁO THỐNG KÊ VỀ DỰ ÁN KINH
DOANH CỬA HÀNG 24H
Mở đầu
* Lý do chọn đề tài:
Khu vực Đại học Quốc Gia là nơi tập trung với số lượng lớn sinh viên. Do đó,
trong khu vực có nhiều loại hình kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập và sinh hoạt
của sinh viên. Chúng tôi, những sinh viên Đại học Quốc Gia hiểu rõ nhu cầu mua
hàng tiêu dùng của sinh viên là rất cần thiết.
Nhưng trên thực tế, những loại hình kinh doanh về hàng tiêu dùng chưa đáp ứng
thật tốt nhu cầu của sinh viên. Ý tưởng kinh doanh cửa hàng 24h xuất phát từ sự
mong muốn một cửa hàng đáp ứng tốt về chất lượng và giá cả của sản phẩm cho đối
tượng chủ yếu là sinh viên.
Chúng tôi tập trung nhiều đến khu vực Đại học Quốc Gia, chọn đây là nơi tiến
hành khảo sát để thực hiện kế hoạch mở cửa hàng 24h đầu tiên. Bên cạnh đó, để xác
định hướng phát triển tiềm năng cho chuỗi cửa hàng 24h, chúng tôi mở rộng hướng
khảo sát cho khu vực Thủ Đức và quận 9.
* Việc tiến hành khảo sát cho dự án này nhằm mục tiêu:
- Khảo sát về nhu cầu mua hàng tiêu dùng của sinh viên dựa trên những đặc điểm
của cửa hàng 24h.
- Sử dụng thống kê mô tả và thống kê suy diễn để phân tích các yếu tố liên quan
đến nhu cầu mua hàng tiêu dùng của sinh viên.
- Đưa ra quyết định nên hay không nên thực hiện dự án kinh doanh cửa hàng 24h
và hướng giải pháp để hoàn thiện cửa hàng.
* Ý nghĩa của đề tài thống kê:
- Việc sử dụng phương pháp thống kê để điều tra, nghiên cứu thị trường cho ý
tưởng kinh doanh. Đồng thời, hỗ trợ chúng tôi đưa ra những quyết định đúng đắn
cho dự án cửa hàng 24h.
- Chúng tôi hi vọng báo cáo thống kê này sẽ là một tài liệu hữu ích nhằm kêu gọi
đầu tư và tài liệu tham khảo cho môn học thống kê của sinh viên.
Chương 1:Cơ sở lý thuyết
1. Thu thập dữ liệu:
- Số lượng mẫu:
Với mục đích điều tra nghiên cứu về nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng của các
bạn sinh viên ở cửa hàng 24h, chúng tôi phát phiếu điều tra diện rộng vào cuối tháng
11 năm 2009. Nội dung nghiên cứu chỉ phản ánh nhu cầu mua hàng tiêu dùng của
các bạn sinh viên ở cửa hàng 24h và mức độ ưa thích của sinh viên đối với các nơi
mua sắm là đối thủ cạnh tranh của cửa hàng.
- Địa bàn lấy mẫu: căn cứ vào nơi mà cửa hàng dự định sẽ mở, chúng tôi tiến hành
khảo sát ở khu vực Đại học quốc gia 103 sinh viên.
- Khu vực khảo sát mở rộng :quận 9 và thủ Đức 60 sinh viên.
- Phương pháp lấy mẫu:
Do thời gian và kinh phí hạn chế nên chúng tôi chỉ tiến hành lấy mẫu theo
phương pháp thuận tiện. Chúng tôi tiến hanh điều tra thử 20 bảng câu hỏi nhằm
kiểm tra tính tương thích của bảng câu hỏi và các biến đã xác định bằng phương
pháp định tính. Sau đó tiến hành điều tra chính thức để thu thập dữ liệu trên mẫu.
2. Tóm tắt và trình bày dữ liệu
- Lập bảng tần số cho dữ liệu định tính:
Đối với dữ liệu định tính thu thập từ các tiêu thức thuộc tính như giới tính…
hay thu thập từ các tiêu thức số lượng nhưng qua các thang đo định tính như mức thu
nhập ( dưới 1 triệu đồng, từ 1-2 triệu đồng…) người ta thường đếm xem có bao
nhiêu đơn vị quan sát có cùng một biểu hiện và so với tổng số quan sát thì số đơn vị
có cùng biểu hiện này chiếm bao nhiêu phần trăm. Kết quả thường được trình bày
dưới dạng bảng tần số. Ở dạng cơ bản nhất thì bảng tần số thường bao gồm hai cột
tính toán là tần số và tần suất %.
- Lập bảng tần số cho dữ liệu định lượng:
Đối với dữ liệu định lượng thu thập từ các thang đo định lượng, khi số quan
sát khá nhiều lên đến vài chục, hàng trăm hoặc hơn thì chúng ta cần lập bảng tần số
tương tự như trong trường hợp dữ liệu định tính. Trong trường hợp các trị số thu
thập được có ít giá trị thì mỗi trị số là một tổ hay nhóm. Trong trường hợp có quá
nhiều trị số tức là có quá nhiều nhóm thì các trị số hay nhóm sẽ được sắp xếp lại với
nhau để số tổ nhóm ít lại, dễ cho việc quan sát và cảm nhận.
Khi phân tổ đối với dữ liệu định lượng thì chúng ta có thể phân tổ có khoảng
cách tổ đều tùy theo tính chất của hiện tượng nghiên cứu hay tùy theo mục đích so
sánh và phân tích của những người nghiên cứu. Nếu mức độ của các đơn vị phân tán
đều thì sử dụng phân tổ có khoảng cách đều. Nếu các đơn vị có mức độ phân tán
không đều thì chúng ta có thể phân tổ có khoảng cách không đều chứ không nhất
thiết phải phân tổ đều.
- Sử dụng đồ thị phân phối tần số:
Biểu đồ và đồ thị thống kê là các hình vẽ, đường nét hình học dùng để mô tả có
tính quy ước các số liệu thống kê. Bảng thống kê chỉ dùng các con số và cung cấp
những thông tin chi tiết, còn biểu đồ và đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với
hình vẽ, đường nét và màu sắc để tóm tắt và trình bày các đặc trưng chủ yếu của
hiện tượng nghiên cứu, phản ánh một cách khái quát các đặc điểm về cơ cấu, mối
liên hệ, quan hệ so sánh, xu hướng biến động … của hiện tượng nghiên cứu.
Do dùng hình vẽ, đường nét và màu sắc để biểu hiện mức độ của hiện tượng
nên đồ thị thống kê rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ, giúp cho người xem
nhận thức được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng một cách dễ dàng, nhanh
chóng, làm cho những người dù ít hiểu biết về thống kê vẫn có thể nhận ra được nội
dung chủ yếu của vấn đề được trình bày trên đồ thị.
3. Phân tích dữ liệu:
- Thống kê mô tả:
Đối với dữ liệu định lượng, chúng ta có thể tóm tắt tốt hơn khi có khối
lượng dữ liệu lớn, đó là dùng các đại lượng thống kê mô tả. Các đại lượng
thống kê mô tả thường sử dụng nhất được chia làm hai nhóm: nhóm các đại
lượng thể hiện mức độ tập trung của dữ liệu, và nhóm các đại lượng thể hiện
độ phân tán của dữ liệu. Chúng ta cần phải tính toán cả hai đại lượng đo lường
này vì chúng phản ánh hai khía cạnh của tập hợp dữ liệu đã thu thập.
Các đại lượng đo lường mức độ tập trung của dữ liệu thường dùng là
trung bình cộng, mode, trung vị. Trong đó trung bình cộng được sử dụng phổ
biến nhất. Các đại lượng đo lường độ phân tán của dữ liệu thường dùng là
khoảng biến thiên, độ lệch tuyệt đối bình quân, phương sai, độ lệch chuẩn và
hệ số biến thiên. Trong đó độ lệch chuẩn được sử dụng phổ biến nhất.
+ Số trung bình cộng được tính bằng cách đem chia tổng tất cả các trị số
của các đơn vị cho số đơn vị tổng thế.
+ Mode là biểu hiện của một tiêu thức được gặp nhiều nhất trong tổng
thể. Đối với một dãy số lượng biến, mode là lượng biến có tần số lớn nhất.
Mode không chịu ảnh hưởng của các lượng biến đột xuất, nhưng cũng
chính điều này làm cho mode kém nhạy bén với sự biến thiên của tiêu thức.
Trong thực tế mode được sử dụng ít hơn số trung vị và số trung bình.
+ Trung vị là lượng biến của đơn vị đứng ở vị trí giữa trong dãy số
lượng biến đã được sắp xếp theo thứ tự tăng dần. Số trung vị chia dãy số làm
hai phần, mỗi phần có số đơn vị tổng thể bằng nhau.
Trung vị biểu hiện mức độ đại biểu của hiện tượng mà không san
bằng bù trừ chênh lệch giữa các lượng biến. Số trung vị có thể dùng để thay
thế số trung bình cộng. Số trung vị cũng là một trong các chỉ tiêu dùng để nêu
lên đặc trưng phân phối của dãy số.
- Thống kê suy diễn:
+ Ước lượng:
Khi nghiên cứu điều tra chọn mẫu, cái chính không phải nhằm nghiên
cứu tổng thể mẫu đại diện được chọn ra từ tổng thể chung, mà chính là qua
tổng thể mẫu đó để nghiên cứu được tính quy luật và trạng thái của tổng thể
chung chứa nó. Nghĩa là dựa vào sự hiểu biết về tham số của tổng thể mẫu đã
tính ra được để suy ra tham số của tổng thể chung chưa biết. Việc làm như vậy
gọi chung là ước lượng.
Trong ước lượng điểm, giá trị ước lượng các đặc trưng của tổng thể phụ
thuộc vào một giá trị cụ thể của biến ngẫu nhiên (ví dụ: trung bình, tỷ lệ và
phương sai mẫu). Ứng với các mẫu khác nhau ta sẽ nhận được các giá trị khác
nhau. Do đó chúng không thể hiện tính chính xác của ước lượng. Do vậy ta cần
thực hiện ước lượng khoảng, nghĩa là dựa vào số liệu của mẫu, với một độ tin
cậy cho trước, xác định khoảng giá trị mà các đặc trưng của tổng thể có thể rơi
vào.
+ Kiểm định:
Các đặc trưng của mẫu ngoài việc sử dụng để ước lượng các đặc trưng của
tổng thể còn được dùng để đánh giá xem một giả thuyết nào đó của tổng thể là đúng
hay sai. Việc tìm ra kết luận để bác bỏ hay chấp nhận một giả thuyết gọi là kiểm
định giả thuyết.
Chương 2: Phân tích dữ liệu
1. Thu thập dữ liệu:
1.1 Mô tả mẫu điều tra:
Mẫu điều tra gồm 103 quan sát.Thời gian lấy mẫu là cuối tháng 11 năm 2009.
Mẫu điều tra gồm 103 sinh viên thuộc làng đại học quốc gia và điều tra khảo
sát mở rộng 60 sinh viên một số trường thuộc khu vực quận 9,Thủ Đức.
Trong quá trình thu thập dữ liệu,chúng tôi thực hiện lấy mẫu theo phương pháp
thuận tiện. Dữ liệu được thu thập trên từng quan sát theo phương pháp phỏng vấn
trực tiếp với câu hỏi đóng.
1.2 Giới tính:
Mẫu điều tra gồm 79 nam(48%) và 84 nữ(52%).
1.3 Thu nhập:
Thu nhập Số người Tỉ lệ(%)
< 1 triệu 37 23
1 – 1.5 triệu 69 42
1.5 – 2 triệu 47 29
> 2 triệu 10 6
2. Tóm tắt và trình bày dữ liệu:
- Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi:
Câu
Biến Thang đo
hỏi
1 Sinh viên năm mấy,trường nào Norminal
2 Giới tính Norminal
3 Tổng chi tiêu hàng tháng Ordinal
4 Mua hàng tiêu dùng ở đâu Norminal
5 Mua ở những nơi đó vì Norminal
6 Vị trí thường mua những mặt hàng tiêu dùng Norminal
7 Thường mua hàng tiêu dùng vào thời gian nào Norminal
8 Những mặt hàng tiêu dùng thường mua Norminal
9 Có nhu cầu ăn khuya không Norminal
10 Thích những loại thức ăn nhanh nào Norminal
11 Đánh giá chất lượng hàng hóa những nơi thường mua. Scale
12 Đánh giá giá cả hàng hóa những nơi thường mua. Scale
13 Đánh giá chất lượng phục vụ những nơi thường mua. Scale
14 Muốn một cửa hàng phục vụ với thời gian 24/24h không? Scale
15 Hình thức thanh toán tiền Norminal
16 Đóng góp ý kiến cho cửa hàng. Norminal
3. Phân tích dữ liệu:
A. Tiến hành phân tích trên mẫu 103 sinh viên tại khu vực Đại học
quốc gia.
3.1 Vị trí sinh viên thường mua hàng tiêu dùng:
thuong mua hang tieu
thuong mua hang tieu thuong mua hang tieu dung o tren duong di thuong mua hang tieu
dung o gan noi o dung o gan truong hoc hoc dung o nhung noi khac
Count % Count % Count % Count %
khong 34 33.0% 83 80.6% 74 71.8% 83 80.6%
co 69 67.0% 20 19.4% 29 28.2% 20 19.4%
Total 103 100.0% 103 100.0% 103 100.0% 103 100.0%
Rows
khong
75
co
Valu es
50
25
0
th uo n g m ua h an g ti e u d u ng o g a n n o i o Cou nth
t uo n g m ua h an g ti e u d u ng o n h un g no i kha c Co un t
th uo n g m ua h an g ti e u d u ng o g a n tru on g ho c Co u nt
th uo n g m ua h an g ti e u d u ng o tre n d u on g di h oc Cou n t
Columns
- Đa số sinh viên được khảo sát mua hàng tiêu dùng gần nơi ở: 69 sv (67%)
- Số lượng sinh viên mua hàng tiêu dùng gần trường học là khá ít so với số lượng
mẫu, có 20 sv (19,4%)
Qua việc thống kê ý kiến của 103 sinh viên thể hiện không phải sinh viên hoàn
toàn ưa chuộng mua hàng tiêu dùng ở gần trường. Điều đó cho thấy dự án kinh
doanh nên chú ý nhiều đến vị trí đặt cửa hàng phù hợp với nhu cầu mua hàng của
sinh viên và không nên dựa vào ý kiến phán đoán chủ quan về sinh hoạt của sinh
viên.
3.2, Sự quan tâm của sinh viên đối với hàng hóa và mức chi tiêu hàng tháng
của họ:
tong so tien chi tieu hang thang cua ban Total
< 1 trieu 1 - 1.5 trieu 1.5 - 2 trieu > 2 trieu
Table Table Table Table Table
Count % Count % Count % Count % Count %
ban thuong quan tam
mua hang o nhieu den
nhung noi do chat luong
2 2.0% 2 2.0% 2 2.0% 1 1.0% 7 6.9%
vi tot, it quan
tam den gia
ca
chat luong
va gia ca 20 19.6% 41 40.2% 21 20.6% 5 4.9% 87 85.3%
deu vua phai
chi quan tam
3 2.9% 4 3.9% 1 1.0% 8 7.8%
den gia re
- Đa số sinh viên đều quan tâm đến cả chất lượng và giá cả của hàng hóa dù ở
mức chi tiêu như thế nào. Tuy nhiên, ở mức tổng chi tiêu hàng tháng trên 2 triệu thì
ta nhận thấy rằng, họ quan tâm đến chất lượng nhiều hơn là giá cả hàng hóa. Do đó
khi thực hiện mở cửa hàng 24h, cần chú trọng đến giá cả và đặc biệt là chất lượng
hàng hóa cung cấp cho sinh viên.
3.3, Lý do sinh viên chọn địa điểm mua hàng:
ban thuong mua hang o nhung noi do vi Total
quan tam nhieu
den chat luong tot,
it quan tam den gia chat luong va gia chi quan tam den
ca ca deu vua phai gia re
Count Table % Count Table % Count Table % Count Table %
ban thuong cua hang tap
1 1.0% 24 23.5% 1 1.0% 26 25.5%
mua nhung mat hoa
hang cho sinh o cho 4 3.9% 2 2.0% 6 5.9%
hoat hang ngay sieu thi 1 1.0% 20 19.6% 1 1.0% 22 21.6%
o dau khong co dinh 5 4.9% 39 38.2% 4 3.9% 48 47.1%
- Sinh viên chọn vị trí thường mua sắm là do họ cho rằng chất lượng và hàng hóa
ở những nơi đó là vừa phải và đa số sinh viên không mua sắm cố định ở một nơi
nào.
3.4, Đánh giá của sinh viên về chất lượng, giá cả hàng hóa và chất
lượng phục vụ nơi họ thường mua hàng tiêu dùng:
- Phần lớn sinh viên đánh giá “bình thường” về chất lượng, giá cả hàng hóa cũng
như chất lượng phục vụ ở những nơi họ thường mua sắm. Số lượng sinh viên đánh
giá là “rất hài lòng” chiếm tỉ lệ ít nhất (2.9% đối với chất lượng hàng hóa và giá cả
hàng hóa, 5.8% đối với chất lượng phục vụ)
- Chất lượng hàng hóa được sinh viên đánh giá ở mức độ “hài lòng” cao hơn
(24.3%) so với giá cả hàng hóa (15.5%) và chất lượng phục vụ (20.4%).
3.5 Những loại thức ăn nhanh được sinh viên ưa chuộng:
thich cac loai mi, chao thich cac loai thuc an
an lien thich cac loai banh ngot thich cac loai nuoc uong nhanh khac
Count % Count % Count % Count %
khong 72 69.9% 60 58.3% 66 64.1% 78 75.7%
co 31 30.1% 43 41.7% 37 35.9% 25 24.3%
Total 103 100.0% 103 100.0% 103 100.0% 103 100.0%
- Đa số các bạn sinh viên ưa chuộng các loại bánh ngọt (41.7%), các loại đồ ăn
nhanh khác cũng được các bạn lựa chọn với tỉ lệ không nhỏ.
3.6 Những mặt hàng tiêu dùng được sinh viên ưa thích:
gioi tinh
nu nam
thuong thuong
thuong mua mat thuong mua mat
mua mat thuong hang do thuong mua mat thuong hang do thuong
hang van mua mat dung sinh mua mat hang van mua mat dung sinh mua mat
phong hang do hoat ca hang qua phong hang do hoat ca hang qua
pham an nhanh nhan luu niem pham an nhanh nhan luu niem
Count Count Count Count Count Count Count Count
khong 45 42 4 51 32 29 7 40
co 15 18 56 9 11 14 36 3
- Đa số các bạn sinh viên đều lựa chọn mặt hàng đồ dùng sinh hoạt cá nhân là
nhiều nhất(nữ: 93.3% , nam: 83.7%). Mặt hàng quà lưu niệm chiếm tỉ lệ thấp nhất
(nữ: 15%, nam: 7%).
- Nhìn chung không có sự khác biệt lớn trong sự lựa chọn các mặt hàng tiêu dùng
giữa các sinh viên nam và nữ. Đây là điểm thuận lợi cho việc bố trí các mặt hàng
tiêu dùng trong cửa hàng.
3.7 Thời gian mua hàng của sinh viên:
Cumulative
Frequency Percent Valid Percent Percent
Valid buoi sang 3 2.9 2.9 2.9
buoi chieu 10 9.7 9.7 12.6
buoi toi 19 18.4 18.4 31.1
khong co
71 68.9 68.9 100.0
dinh
Total 103 100.0 100.0
- Có 2.9% sinh viên mua hàng vào buổi sáng, 9.7% sinh viên mua hàng vào buổi
chiều, 18.4% sinh viên mua hàng vào buổi tối, 68.9% sinh viên mua hàng vào thời
gian không cố định.
- Như vậy, hầu hết thời gian mua hàng của sinh viên là không cố định, điều này
chính là ưu thế của cửa hàng, có thể đáp ứng mọi nhu cầu về thời gian tiêu dùng của
sinh viên.
3.8 Nhu cầu ăn khuya của sinh viên:
Cumulative
Frequency Percent Valid Percent Percent
Valid thuong
27 26.2 26.2 26.2
xuyen
thinh thoang 61 59.2 59.2 85.4
khong co
15 14.6 14.6 100.0
nhu cau
Total 103 100.0 100.0
- Có 26.2% sinh viên thường xuyên có nhu cầu ăn khuya, 59.2% sinh viên thỉnh
thoảng có nhu cầu ăn khuya, 14.6% sinh viên không có nhu cầu ăn khuya. Cho thấy
phần lớn sinh viên vẫn thường xuyên hoặc thỉnh thoảng có nhu cầu ăn khuya.
3.9 Hình thức thanh toán được sinh viên ưa thích:
- Có 32% sinh viên thích có nhân viên thu tiền, 41.7% sinh viên thích hình thức
thanh toán bằng tiền mặt, 26.2% sinh viên thích hình thức thanh toán bằng thẻ.
- Hình thức thanh toán bằng tiền mặt được sinh viên ưa chuộng nhất. Cửa hàng
dựa vào nhu cầu của sinh viên để có hình thức thanh toán hợp lý và tiện lợi nhất cho
sinh viên.
3.10 Nhu cầu của sinh viên về thời gian phục vụ 24/24h của cửa hàng.
- Với thời gian mua hàng không ổn định của mình nên đa số sinh viên mong muốn
có một cửa hàng có thời gian phục vụ 24/24h, cụ thể là có 93.2% đồng ý với thời
gian mở của cửa hàng.
3.11 Ước lượng,kiểm định trên mẫu 103 sinh viên về tỉ lệ người có
nhu cầu về thời gian phục vụ 24/24h của cửa hàng:
* Ước lượng tỉ lệ:
muon mot cua hang thoi gian phuc vu la 24/24h
Cumulative
Frequency Percent Valid Percent Percent
Valid khong 7 6.8 6.8 6.8
co 96 93.2 93.2 100.0
Total 103 100.0 100.0
- Tỉ lệ sinh viên có nhu cầu trên mẫu: f = 0.932.
- Tỉ lệ sinh viên có nhu cầu trên tổng thể: p
- Độ tin cậy suy ra
Ta có: =1.04
- Độ chính xác
=> p ( 0.907 ; 0.957 )
Vậy xét trong tổng thể, tỉ lệ sinh viên có nhu cầu về thời gian phục vụ của cửa
hàng 24h nằm trong khoảng từ 90.7% - 95.7%
* Kiểm định tỉ lệ:
- Giả thiết: H0: p 0.9 ( tỉ lệ sinh viên có nhu cầu nhiều nhất là 90% )
H1: p > 0.9
Với mức ý nghĩa , =1.04
Giá trị kiểm định z0 = = 1.08
Ta thấy: z0 > => bác bỏ H0
Vậy có thể nói trên tổng thể, tỉ lệ sinh viên có nhu cầu về thời gian phục vụ
của cửa hàng là >90% với mức ý nghĩa là 0.15.
B. Tiến hành phân tích trên mẫu 60 sinh viên tại khu vực trường Đại
học Sư phạm Kĩ thuật (Thủ Đức) và trường Đại học Giao thông vận
tải (Quận 9).
3.1 Các loại hàng tiêu dùng được ưa chuộng:
gioi tinh
nu nam
thich cac thich cac thich cac thich cac
loai thich cac thich cac loai thuc loai thich cac thich cac loai thuc
mi,chao loai banh loai nuoc an nhanh mi,chao loai banh loai nuoc an nhanh
an lien ngot uong khac an lien ngot uong khac
Count Count Count Count Count Count Count Count
khong 17 15 13 16 17 28 28 24
co 7 9 11 8 19 8 8 12
- Đa số các bạn sinh viên nữ thích các loại nước uống (45.8%), còn đa số các bạn
nam lại thích các loại mì, cháo ăn liền (52.7%).
- Các loại đồ ăn nhanh khác cũng chiếm một tỉ lệ không nhỏ:
+ Các bạn nữ: 29.2% lựa chọn các loại mì, cháo ăn liền.
37.5% lựa chọn các loại bánh ngọt.
33.3% lựa chọn các loại khác.
+ Các bạn nam: 22.2% lựa chọn các loại bánh ngọt.
22.2% lựa chọn các loại nước uống.
33.3% lựa chọn các loại khác.