Bằng chứng kiểm toán và phương pháp thu thập trong kiểm toán báo cáo tài chính

  • 30 trang
  • file .doc
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP.......................................................................5
1.1. Bằng chứng kiểm toán........................................................................5
1.1.1. Khái niệm....................................................................................5
1.1.2. Vai trò của bằng chứng kiểm toán...............................................6
1.1.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán.................................................7
1.1.4. Tính chất của bằng chứng kiểm toán...........................................8
1.2. Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán.........................................12
1.2.1. Kiểm kê vật chất........................................................................12
1.2.2. Lấy xác nhận.............................................................................13
1.2.3. Xác minh tài liệu.......................................................................15
1.2.4. Quan sát.....................................................................................16
1.2.5. Phỏng vấn..................................................................................17
1.2.6. Tính toán lại..............................................................................19
1.2.7. Phân tích....................................................................................19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THU
THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM
TIẾN HÀNH..................................................................................................22
2.1. Kiểm kê............................................................................................22
2.2. Lấy xác nhận....................................................................................22
2.3. Xác minh tài liệu.............................................................................23
2.4. Quan sát............................................................................................24
2.5. Phỏng vấn.........................................................................................24
2.6. Tính toán lại.....................................................................................25
1
2.7. Phân tích...........................................................................................25
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHƯƠNG PHÁP THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN..26
3.1. Kiểm kê vật chất...............................................................................26
3.2. Lấy xác nhận....................................................................................27
3.3. Xác minh tài liệu..............................................................................27
3.4. Quan sát............................................................................................27
3.5. Phỏng vấn.........................................................................................27
3.6. Tính toán lại.....................................................................................28
3.7. Phân tích...........................................................................................28
KẾT LUẬN....................................................................................................29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................30
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hội nhập và mở cửa, thị trường vốn ngày càng sôi
động tại Việt Nam, rất nhiều công ty mở rộng sản xuất kinh doanh tham gia
vào các thị trường vốn, vấn đề minh bạch báo cáo tài chính lại càng trở nên
cần thiết. Nhu cầu về kiểm toán càng trở thành tất yếu, kiểm toán không chỉ là
công cụ kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính, cung cấp các thông tin
tạo niềm tin cho người quan tâm mà kiểm toán đã phát triển thành một nghề
cung cấp các dịch vụ về kiểm toán, tư vấn tài chính, góp phần nâng cao năng
lực và hiệu quả quản lý …và ngày càng nắm giữ vị trí quan trọng trong nền
kinh tế.
Tuy nhiên người sử dụng báo cáo kiểm toán cũng yêu cầu những thông
tin mà họ được cung cấp là trung thực, hợp lý, khách quan, có độ tin cậy cao
để đưa ra quyết định theo trách nhiệm của mình, quyết định liên quan đến
việc đầu tư vốn, cho vay, mua bán tài sản. Vì vậy những kết luận của kiểm
toán viên nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính đã
được kiểm toán phải được đảm bảo bằng những bằng chứng đầy đủ và hiệu
lực. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thu thập đầy đủ các bằng chứng có giá trị
và các phương pháp tiến hành thu thập chúng đảm bảo với mức chi phí phù
hợp. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, dựa vào những kiến
thức đã được trang bị và tìm hiểu trên thực tế em đi vào nghiên cứu đề tài:
“Bằng chứng kiểm toán và phương pháp thu thập trong kiểm toán báo
cáo tài chính” với mong muốn hiểu sâu thêm về vấn đề thu thập bằng chứng
kiểm toán trong hoạt động kiểm toán hiện nay. Nội dung đề tài gồm:
Chương I: Lý luận chung về bằng chứng kiểm toán và các phương pháp
thu thập bằng chứng kiểm toán.
3
Chương II: Thực trạng áp dụng các phương pháp thu thập bằng chứng
kiểm toán trong kiểm toán tài chính do các công ty kiểm toán độc lập Việt
Nam tiến hành.
Chương III: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp
thu thập bằng chứng kiểm toán.
4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN
VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP
1.1. Bằng chứng kiểm toán
1.1.1. Khái niệm
Bằng chứng kiểm toán nói riêng hay bằng chứng nói chung đều là căn
cứ để đưa ra kết luận về vấn đề quan tâm.
Trước hết theo từ điển tiếng Việt: “Bằng chứng là những vật hoặc việc
dùng làm bằng, để chứng tỏ việc là có thật” như vậy bằng chứng là một căn
cứ rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau không chỉ trong lĩnh vực
kiểm toán. Ngay trong cuộc sống hàng ngày khi muốn đưa ra một ý kiến một
nhận xét hay tranh luận một vấn đề cũng cần phải có những căn cứ cụ thể.
Đặc biệt trong luật pháp bằng chứng trở thành những căn cứ pháp lý để quy
kết tội danh cũng như minh chứng sự vô tội cho chủ thể.
Trong lĩnh vực kiểm toán, bằng chứng được giới hạn hẹp hơn đó là
bằng chứng kiểm toán. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500: “ Bằng
chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập
được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán
viên hình thành nên ý kiến của mình. Bằng chứng kiểm toán bao gồm các tài
liệu, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu, thông tin từ những
nguồn khác.” Bằng chứng kiểm toán không bị giới hạn về hình thức, loại
hình, nó là tất cả những tài liệu mà kiểm toán viên có thể thu thập được liên
quan đến cuộc kiểm toán không những có giá trị về mặt kinh tế mà cả trên các
vấn đề pháp luật, khoa học kĩ thuật,…Như vậy các bằng chứng thu thập được
rất phong phú đa dạng, mỗi loại bằng chứng sẽ làm cơ sở hình thành nên
những ý kiến kiểm toán về những vấn đề khác nhau.Tuy nhiên mỗi cuộc kiểm
toán đều có những mục đích nhất định vì thế kiểm toán viên cần lựa chọn
5
những thông tin thích hợp với mục tiêu kiểm toán đang tiến hành. Ví dụ nếu
mục tiêu cuộc kiểm toán là đánh giá khả năng thanh toán của công ty giúp các
ngân hàng, nhà đầu tư có quyết định cho vay đối với doanh nghiệp thì các
bằng chứng được căn cứ là chủ yếu như: hệ số khả năng thanh toán tổng hợp,
hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán tức thời, giá trị
của các tài sản thế chấp, tình hình tài chính của doanh nghiệp,… còn những
bằng chứng về nhân công, tính tuân thủ pháp luật,… sẽ có ít vai trò trong việc
hình thành ý kiến kiểm toán trong trường hợp này. Như vậy quyết định thu
thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán thu thập được giúp kiểm toán viên
đưa ra ý kiến xác đáng về đối tượng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng đến sự
thành công của cuộc kiểm toán.
Khác với bằng chứng kiểm toán, bằng chứng pháp lý là những gì chứng
minh được một sự kiện hoặc một quan hệ pháp luật.Chủ thể tiến hành thu
thập bằng chứng pháp lý là cơ quan bảo vệ và thừa hành pháp luật. Bằng
chứng pháp lý liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp lý, kinh tế, văn hoá,…Mục
đích thu thập bằng chứng pháp lý là kiểm tra tính tuân thủ pháp luật của công
ty được kiểm toán nhưng không xem xét đến mức độ ảnh hưởng trọng yếu
đến báo cáo tài chính. Trong khi đó bằng chứng kiểm toán có chủ thể thu thập
là các kiểm toán viên, đối tượng và mục đích chỉ trong lĩnh vực kiểm toán.
Khi kiểm toán một công ty “ Việc đánh giá và xác định hành vi không tuân
thủ pháp luật và các quy định nói chung không phải là trách nhiệm nghề
nghiệp của kiểm toán viên và các công ty kiểm toán” Tuy nhiên bằng chứng
kiểm toán cũng có thể bao gồm cả bằng chứng pháp lý nếu việc không tuân
thủ pháp luật của công ty kiểm toán làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính.
1.1.2. Vai trò của bằng chứng kiểm toán
6
Bằng chứng kiểm toán giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong các
cuộc kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán là cơ sở để hình thành nên kết quả
cuối cùng của toàn bộ cuộc kiểm toán đó là kết luận kiểm toán. Như vậy sự
thành công của cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và sau
đó là đánh giá các bằng chứng kiểm toán thu thập được. Kết luận kiểm toán
khó có thể nhận định xác đáng về đối tượng được kiểm toán nếu bằng chứng
thu được không đầy đủ, không phù hợp và có độ tin cậy không cao.
Với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các công ty kiểm toán, chất
lượng kiểm toán là thước đo uy tín của các công ty trên thị trường, nâng cao
khả năng cạnh tranh của công ty kiểm toán. Việc đánh giá chất lượng hoạt
động kiểm toán phải dựa trên việc thu thập bằng chứng kiểm toán có đầy đủ
và phù hợp với mục tiêu kiểm toán trong quá trình tiến hành hoạt động kiểm
toán của công ty.
Bằng chứng kiểm toán là cơ sở giúp chủ nhiệm kiểm toán, Ban giám
đốc kiểm tra kiểm soát việc thực hiện của kiểm toán viên, giúp cơ quan tư
pháp giám sát đối với chủ thể kiểm toán. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp
kiện tụng giữa công ty kiểm toán và người sử dụng thông tin trên báo cáo tài
chính thì bằng chứng kiểm toán chính là cơ sở để kiểm toán viên chứng minh,
bảo vệ ý kiến của mình trước cơ quan luật pháp.
Trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài
chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán, những kết luận của kiểm
toán viên trong báo cáo kiểm toán tạo niềm tin cho người sử dụng chúng. Tuy
nhiên họ chỉ tin tưởng vào các kết luận này nếu chúng được đưa ra khi kiểm
toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng có hiệu lực xác nhận rằng các thông
tin kinh tế tài chính đều không có sự sai lệch nghiêm trọng.
1.1.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán
7
Có nhiều cách phân loại bằng chứng kiểm toán, ứng với mỗi cách phân
loại bằng chứng được chia thành các loại hình khác nhau.
 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc hình thành
Căn cứ theo nguồn gốc của các tài liệu, thông tin kiểm toán thu thập
được, bằng chứng kiểm toán được chia thành:
- Bằng chứng kiểm toán thu thập một cách trực tiếp bởi kiểm toán viên.
Bằng chứng này có độ tin cậy cao nhất, vì chúng do kiểm toán viên tự khai
thác, phát hiện bằng việc phân tích, tính toán, kiểm kê, quan sát,..
- Bằng chứng thu được từ bên thứ ba độc lập với đơn vị được kiểm toán.
Bên thứ ba bao gồm: các nhà cung cấp, chủ nợ, khách hàng, ngân hàng, các tổ
chức tài chính tín dụng, cơ quan thuế,..
- Bằng chứng do đơn vị được kiểm toán cung cấp.
 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo loại hình
Theo loại hình bằng chứng được chia thành 2 loại:
- Bằng chứng bằng tài liệu, văn bản, biên bản: biên bản kiểm kê, sổ sách
kế toán, thư xác nhận,…
- Bằng chứng trình bày bằng miệng: phỏng vấn,…
Ngoài ra bằng chứng kiểm toán còn được chia thành hai loại là bằng chứng có
sẵn và loại kiểm toán viên phải tạo ra:
- Tài liệu có sẵn (chứng từ kiểm toán): đây là nguồn bằng chứng phổ biến
vì nó cung cấp bằng chứng với tốc độ nhanh và chi phí thấp. Nó gồm các
chứng từ, sổ sách kế toán, các giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập,
biên bản họp hội đồng quản trị,…
- Tài liệu được tạo ra: thư xác nhận, các phiếu câu hỏi phỏng vấn, các tài
liệu chứng minh,…
1.1.4. Tính chất của bằng chứng kiểm toán
8
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 quy định “ Kiểm toán
viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán
thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị
được kiểm toán” Như vậy, để đưa ra được kết luận kiểm toán thì kiểm toán
viên phải thu thập được những bằng chứng kiểm toán thuyết phục. Tính
thuyết phục của bằng chứng kiểm toán được thể hiện bởi hai tính chất quan
trọng: tính hiệu lực và tính đầy đủ.
 Tính hiệu lực:
Tính hiệu lực là khái niệm chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng chứng
kiểm toán. Bằng chứng có tính hiệu lực cao sẽ giúp cho kiểm toán đưa ra
được những kết luận chính xác, xác thực với thực trạng báo cáo tài chính của
doanh nghiệp. Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố:
- Loại hình bằng chứng: Bằng chứng bằng văn bản có độ tin cậy cao hơn
bằng chứng bằng chứng bằng miệng. Bằng chứng bằng văn bản bao giờ cũng
để lại dấu vết đó là chữ kí của người lập, người phê duyệt, người thực hiện,…
gắn trách nhiệm của họ đối với việc đưa ra bằng chứng, bằng chứng bằng
miệng thường ít có căn cứ. Ví dụ biên bản kiểm kê có được khi kiểm toán
viên chứng kiến hoặc trực tiếp tham gia kiểm kê có độ tin cậy cao hơn là bằng
chứng thu được do phỏng vấn thủ kho của đơn vị.
- Nguồn gốc thu thập bằng chứng kiểm toán có ảnh hưởng quan trọng đến
tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán, bằng chứng có nguồn gốc càng độc
lập với đối tượng được kiểm toán thì càng có hiệu lực. Bằng chứng thu được
do kiểm toán viên xem xét thực tế, quan sát, tính toán, phân tích, điều tra bao
giờ cũng có độ tin cậy cao nhất, bằng chứng thu được từ nguồn độc lập bên
ngoài (như giấy xác nhận của khách hàng, hoá đơn mua hàng, giấy báo nợ có
9
của ngân hàng,…) có độ tin cậy cao hơn bằng chứng kiểm toán có được nhờ
khách hàng cung cấp (ví dụ như các tài liệu kế toán của đơn vị).
- Chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ: Hệ thống kiểm soát nội bộ
được thiết kế nhằm ngăn chặn, phát hiện các sai phạm trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, nếu hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và hoạt động có hiệu
quả thì khả năng tồn tại sai phạm mà hệ thống không phát hiện ra sẽ ít hơn,
bằng chứng thu được có độ tin cậy cao.
- Tính thời kỳ, thời điểm của bằng chứng kiểm toán: Mỗi một đối tượng
kiểm toán có một thời điểm kiểm tra thích hợp. Đối với các khoản mục trên
bảng cân đối kế toán của đơn vị, chứng cứ có tính thuyết phục hơn khi nó
được thu thập càng gần ngày lập Bảng cân đối kế toán. Đối với các khoản
mục trên Báo cáo kết quả kinh doanh của đơn vị chứng cứ sẽ có chất lượng
hơn nếu mẫu được lấy trong suốt thời kỳ kiểm toán.
- Sự kết hợp của các bằng chứng kiểm toán: Một kết luận được căn cứ bởi
nhiều bằng chứng sẽ có hiệu lực hơn. Nếu một khoản nợ nhà cung cấp trên sổ
kế toán của công ty khớp với số tiền trong thư xác nhận của người bán, hai
thông tin này có độ tin cậy cao hơn là một thông tin đơn lẻ.
- Ngoài ra trình độ chuyên môn của các cá nhân cung cấp thông tin cũng
có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của bằng chứng kiểm toán. Những bằng
chứng thu được từ ý kiến của chuyên gia có chuyên môn nghiệp vụ cao bao
giờ cũng có chất lượng hơn là bằng chứng từ những người ít am hiểu về lĩnh
vực đó.
 Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán
Đầy đủ là khái niệm dùng để chỉ số lượng chủng loại bằng chứng kiểm toán
cần thu thập để đưa ra kết luận cho cuộc kiểm toán. Không có thước đo chung
cho tính đầy đủ, vấn đề này đòi hỏi rất lớn ở sự suy đoán nghề nghiệp của
kiểm toán viên trong từng tình huống cụ thể. Trên thực tế thường chấp nhận
10
kiểm toán viên thu thập bằng chứng ở mức độ “có tính thuyết phục” hơn là
“có tính chắc chắn”. Kiểm toán viên cần phải cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng
đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán.
- Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng kiểm toán có độ
tin cậy càng thấp thì càng phải thu thập nhiều bằng chứng bởi vì bằng chứng
có độ tin cậy thấp chưa đủ để nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm
toán. Một sự khẳng định của kiểm toán viên cần phải dựa trên cơ sở vững
chắc vì vậy trong quá trình thu thập bằng chứng, kiểm toán viên phải thu thập
càng nhiều thông tin cùng xác minh cho một vấn đề thì bằng chứng thu được
sẽ càng đáng tin cậy hơn.
- Tính trọng yếu của bằng chứng kiểm toán: Theo chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam số 200: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng
của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin
được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác
của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo
tài chính”. Theo yêu cầu của chuẩn mực “báo cáo tài chính đã được kiểm toán
không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu so với ý kiến của kiểm toán
viên trong báo cáo kiểm toán” Như vậy đối tượng cụ thể của kiểm toán càng
trọng yếu thì số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập càng nhiều, khi đó
kiểm toán viên mới có thể đưa ra ý kiến xác đáng về đối tượng kiểm toán, nếu
không những sai sót xảy ra ở đối tượng này có thể ảnh hưởng trọng yếu đối
với báo cáo tài chính.
- Mức độ rủi ro: Những đối tượng được đánh giá có khả năng rủi ro cao thì
số lượng bằng chứng cần phải thu thập nhiều. Ví dụ vốn bằng tiền là khoản
mục có độ rủi ro rất cao bởi vì tiền gọn nhẹ, dễ bị biển thủ, các nghiệp vụ liên
quan đến tiền xảy ra nhiều,… Để giảm thiểu rủi ro kiểm toán phải tăng cường
11
các biện pháp kiểm tra tiền như là kiểm kê, kiểm tra chi tiết, tăng số lượng
bằng chứng kiểm toán thu thập.
- Tính kinh tế, chi phí của việc thu thập bằng chứng kiểm toán: Kiểm toán
viên khi thu thập bằng chứng kiểm toán cần cân nhắc giữa bằng chứng kiểm
toán thu được vớí chi phí bỏ ra để có được bằng chứng kiểm toán đó. Vì vậy
đối với từng khoản mục cụ thể kiểm toán viên phải xác định số lượng bằng
chứng kiểm toán phù hợp để cân đối với toàn bộ chi phí của một cuộc kiểm
toán.
1.2. Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
Để thu thập được các bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực, kiểm toán viên
cần phải áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán phù hợp với
từng điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của đối tượng kiểm toán.
Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán được hiểu là các thủ tục, biện
pháp tác nghiệp mà kiểm toán viên tiến hành nhằm thu được bằng chứng
kiểm toán đầy đủ và có hiệu lực. Dưới đây là một số phương pháp chủ yếu:
1.2.1. Kiểm kê vật chất
Kiểm kê vật chất là quá trình kiểm tra tại chỗ các loại tài sản của doanh
nghiệp. Kết quả của quá trình kiểm tra này thường là các biên bản kiểm kê,
biên bản kiểm tra, biên bản đánh giá, bảng thống kê,… Kiểm tra vật chất
thường được áp dụng đối với tài sản có dạng vật chất cụ thể như hàng tồn
kho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt và các giấy tờ thanh toán có giá trị.
Kiểm kê hiện vật tài sản là việc không thể thiếu để kiểm tra độ tin cậy
của hệ thống kê khai thường xuyên và lập báo cáo tài chính. Vì vậy việc vận
dụng kỹ thuật kiểm kê để thu thập bằng chứng kiểm toán là vô cùng quan
trọng. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 501 đã quy định rõ: “ Trường hợp
hàng tồn kho được xác định là trọng yếu trong báo cáo tài chính thì kiểm toán
viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và
12
tình trạng của hàng tồn kho bằng cách tham gia công việc kiểm kê hiện vật,
trừ khi công việc tham gia là không thể thực hiện được…Trường hợp kiểm
toán viên không thể tham gia kiểm kê hiện vật vào ngày đơn vị thực hiện
kiểm kê, thì phải tham gia kiểm kê lại một số mặt hàng vào thời điểm khác…
Trường hợp kiểm toán viên không thể tham gia kiểm kê, chẳng hạn do tính
chất và địa điểm của công việc kiểm kê này, thì kiểm toán viên phải xác định
xem mình có thể thực hiện các thủ tục kiểm tra thay thế nhằm thu thập đầy đủ
bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và tình trạng hàng tồn kho, để
tránh phải loại trừ vì phạm vi kiểm toán bị giới hạn”.
Kỹ thuật này có ưu điểm:
- Cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất do kiểm kê xác minh được
sự hiện hữu của tài sản, mang tính khách quan.
- Cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, có thể kết hợp luôn với kiểm kê
của doanh nghiệp, nó phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán.
Tuy nhiên kỹ thuật kiểm kê lại gặp phải những hạn chế nhất định
- Kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản tại thời điểm kiểm kê mà
không cho biết quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với tài sản đó dẫn đến tài
sản có thể hiện hữu nhưng lại là tài sản nhận gia công giữ hộ, tài sản thuê
ngoài, tài sản đã đem thế chấp hoặc thủ kho biển thủ tài sản đến lúc kiểm kê
có thể di chuyển từ nơi khác đến.
- Kiểm tra vật chất chỉ cho biết sự tồn tại thực tế về số lượng, còn chất
lượng, tình trạng kỹ thuật, tính sở hữu, phương pháp đánh giá tài sản thì chưa
thể hiện.
Vì những hạn chế trên mà kiểm toán viên muốn có những bằng chứng có độ
tin cậy cao thì phải kết hợp với những kỹ thuật thu thập khác để chứng minh
quyền sở hữu và giá trị của tài sản đó.
1.2.2. Lấy xác nhận
13
Kỹ thuật lấy xác nhận là quá trình thu thập thông tin do bên thứ ba độc
lập cung cấp để xác minh tính chính xác của thông tin mà kiểm toán viên nghi
vấn. Đối tượng của phương pháp xác nhận chủ yếu là các khoản phải thu, các
khoản phải trả, tiền gửi Ngân hàng, tài sản kí gửi, ký quỹ, thế chấp…
Hình thức thực hiện việc xác nhận thường bằng văn bản( thư xác nhận).
Việc gửi thư xác nhận phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thư xác nhận sau khi đã có chữ ký và dấu của công ty khách hàng được
kiểm toán viên hoặc đơn vị được kiểm toán gửi đến bên thứ ba xác nhận
thông tin theo yêu cầu của kiểm toán viên.
- Thư phúc đáp phải phải gửi trực tiếp cho kiểm toán viên và kiểm toán
viên phải kiểm soát được toàn bộ quá trình gửi và nhận thư xác nhận.
- Bên thứ ba phải có sự độc lập đối với công ty được kiểm toán.
- Sự xác nhận phải được thực hiện bằng văn bản.
Kĩ thuật lấy xác nhận thể hiện dưới 2 hình thức:
- Gửi thư xác nhận dạng khẳng định: Kiểm toán viên yêu cầu người xác
nhận gửi thư trả lời cho tất cả các thư xác nhận dù thực tế có đúng hay không
đúng với thông tin kiểm toán viên đưa ra trong thư xác nhận.
- Gửi thư xác nhân dạng phủ định: Kiểm toán viên chỉ yêu cầu người
người xác nhận gửi thư trả lời khi có sự khác biệt giữa thông tin thực tế và
thông tin kiểm toán đưa ra trong thư xác nhận.
Trong hai phương pháp trên, phương pháp thứ nhất đáng tin cậy hơn vì
nếu không nhận được thư trả lời thì kiểm toán có các biện pháp điều tra thêm.
Trong khi đó việc không trả lời ở phương pháp thứ hai lại là bằng chứng xác
nhận rằng số liệu đúng (ví dụ trong trường hợp thư bị thất lạc hoặc khách
hàng không muốn trả lời).
14
Phương pháp gửi thư xác nhận có ưu điểm: Bằng chứng thu được có độ
tin cậy cao nếu kiểm toán viên kiểm soát được quá trình thu thập thư xác nhận
vì những mẫu xác nhận có nguồn độc lập với công ty khách hàng.
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng kỹ thuật này có những hạn chế:
- Chi phí thực thi khá lớn và do đó phạm vi áp dụng tương đối giới hạn,
nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, quan hệ rộng, đa quốc gia,..
- Khả năng thư xác nhận bị thất lạc, hoặc người được xác nhận không hợp
tác không trả lời,…
- Trong nhiều trường hợp các xác nhận của đối tượng tuy độc lập với
doanh nghiệp nhưng đã có sự giàn xếp, đạo diễn của doanh nghiệp.
1.2.3. Xác minh tài liệu
Là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ sách có liên
quan sẵn có trong đơn vị được kiểm toán. Đối tượng của phương pháp này là
các hoá đơn bán hàng, hoá đơn mua hàng, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, sổ
sách kế toán. Phương pháp này được tiến hành theo hai cách:
- Thứ nhất, từ một kết luận có trước, kiểm toán thu thập tài liệu làm cơ sở
để khẳng định cho kết luận cần khẳng định. Ví dụ kiểm toán viên muốn điều
tra về các khoản phải trả nhà cung cấp của công ty kiểm toán viên có thể thu
thập tài liệu phiếu yêu cầu mua hàng, hoá đơn mua hàng, phiếu nhập kho,..
- Thứ hai, kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi
phản ánh vào sổ sách kế toán. Quá trình này có thể tiến hành theo hai hướng:
+ Kiểm tra tài liệu từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán. Hướng xác minh
này được thực hiện khi kiểm toán viên muốn kiểm tra các nghiệp vụ phát sinh
đã được ghi sổ đầy đủ chưa.
15
+ Kiểm tra từ sổ sách kế toán xuống chứng từ gốc. Hướng xác minh này
kiểm toán thực hiện khi muốn khẳng định các nghiệp vụ kinh tế được ghi sổ
thực tế xảy ra chưa, thực chất là khẳng định tính có thật của các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh.
Kỹ thuật này có ưu điểm: Đem lại bằng chứng có độ tin cậy cao, thuận
tiện trong thực hiện do tài liệu thường có sẵn, chi phí để thu thập bằng chứng
cũng ít hơn các kỹ thuật khác
Tuy nhiên nó vẫn còn những hạn chế:
- Độ tin cậy của bằng chứng thu được phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc của
tài liệu, nếu sự độc lập của tài liệu thu thập được đối với đơn vị được kiểm
toán không cao thì độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán cũng không cao
- Các tài liệu kiểm toán viên thu thập để điều tra được lấy từ đơn vị nên có
thể đã bị người cung cấp xuyên tạc, sửa chữa, tẩy xoá, hoặc giả mạo,.. làm
mất tính trung thực, khách quan của tài liệu, do vậy phải có sự xác minh bằng
việc kết hợp các phương pháp khác.
1.2.4. Quan sát
Là phương pháp thu thập bằng chứng thông qua quá trình kiểm toán
viên trực tiếp quan sát, xem xét để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp.
Đó là sự chứng kiến tận mắt các bước công việc, các quá trình thực thi công
việc trong tiến trình hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà kiểm toán viên
cần thu thập bằng chứng. Phương pháp phân tích tìm ra ý nghĩa của số liệu
chứng từ còn phương pháp quan sát trực tiếp nhìn bằng mắt, xem xét và kết
luận bằng nhận thức của chính mình. Ví dụ để đánh giá việc giám sát việc
chấm công trên máy của doanh nghiệp, kiểm toán viên cần quan sát các cán
bộ của doanh nghiệp khi đến công ty và khi ra về có trình thẻ vào máy không,
và khi trình thẻ không hợp lệ vào có bị máy báo lỗi không. Hoặc muốn kiểm
16
tra tình trạng máy móc có bị hỏng hóc hay không thì phải trực tiếp quan sát,
xem xét máy móc mới kết luận được.
Ưu điểm của phương pháp này là bằng chứng thu được có độ tin cậy
cao vì do trực tiếp kiểm toán viên thu thập, kỹ thuật này rất hữu ích trong
nhiều phần hành kiểm toán, chất lượng bất kỳ cuộc kiểm toán nào cũng dựa
trên một phần bằng chứng thu được do quan sát. Tuy nhiên kết quả quan sát
phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm của
từng kiểm toán viên, nếu kiểm toán viên có có trình độ nghiệp vụ và giàu kinh
nghiệm thì kết quả sử dụng phương pháp đạt hiệu quả cao và ngược lại. Hơn
nữa bằng chứng thu được chỉ đúng ở thời điểm quan sát, không chắc chắn có
được thực thi ở thời điểm khác hay không, vì thế kỹ thuật này phải được sử
dụng kết hợp với các kỹ thuật khác thì mới thu được bằng chứng có độ tin cậy
cao.
1.2.5. Phỏng vấn
Phỏng vấn là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản
hay bằng lời nói qua việc phỏng vấn những người hiểu biết về vấn đề mà
kiểm toán viên quan tâm. Chẳng hạn như kiểm toán viên cần biết rõ về những
quy định của hệ thống kiểm soát nội bộ thì có thể trao đổi với những thành
viên của ban quan lý hoặc các cá nhân trong đơn vị về sự hoạt động của các
quy chế kiểm soát nội bộ, hoặc muốn biết về phương pháp ghi sổ hay quá
trình kiểm tra các nghiệp vụ kế toán của đơn vị thì kiểm toán viên có thể
phỏng vấn trao đổi điều tra thông qua người quản lý làm công tác nghiệp vụ.
Có hai hình thức phỏng vấn đó là dạng văn bản hay phỏng vấn trực tiếp
bằng vấn đáp.
- Phỏng vấn trực tiếp là việc kiểm toán viên gặp gỡ và trao đổi trực tiếp
với các đối tượng liên quan. Ví dụ như phỏng vấn trực tiếp thủ quỹ về việc trả
17
lương hàng tháng cho cán bộ công nhân viên, và phỏng vấn nhân viên về việc
nhận lương của họ,…
- Phỏng vấn gián tiếp: Nếu kiểm toán viên thấy việc phỏng vấn trực tiếp
không được thuận lợi có thể sử dụng các bảng, phiếu chứa sẵn các câu hỏi cần
quan tâm.
Quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán qua phỏng vấn gồm các bước sau
đây:
Giai đoạn lập kế hoạch phỏng vấn: trong giai đoạn này kiểm toán
viên phải xác định rõ mục đích, đối tượng, nội dung cụ thể hoá thành trọng
điểm phỏng vấn, nêu rõ địa điểm, thời gian cuộc phỏng vấn,…
Giai đoạn thực hiện phỏng vấn: kiểm toán phải nêu rõ với người
được phỏng vấn biết mình là ai, lý do, mục đích của cuộc phỏng vấn. Tạo
không khí thân thiện thoải mái khi tiến hành phỏng vấn để có được cảm tình
của người được phỏng vấn giúp họ dễ dàng trao đổi những trọng điểm đã xác
định và trả lời các câu hỏi không bị miễn cưỡng hay bắt buộc, như vậy sẽ thu
được thông tin chính xác và đáng tin cậy. Kỹ thuật nêu câu hỏi rất quan trọng,
các câu hỏi đưa ra phải ngắn gọn, rõ nội dung, và mục đích, dễ hiểu, chỉ có
một nghĩa tránh trường hợp người đọc hiểu nhầm, phù hợp với công việc
đang kiểm toán, tránh dùng những câu hỏi qua loa, sơ sài, vô nghĩa. Kiểm
toán viên có thể dùng hai dạng câu hỏi khi phỏng vấn:
- Câu hỏi “ mở” : là câu hỏi khuyến khích người được phỏng vấn mô tả cụ
thể nội dung được hỏi, giúp kiểm toán viên thu thập được thông tin đầy đủ.
Loại câu hỏi này thường có các cụm từ như “ thế nào?”, “ cái gì?”, “ tại sao?”,

- Câu hỏi “đóng”: giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, được sử
dụng khi vấn đề đó kiểm toán viên đã biết và muốn xác nhận lại. Loại câu hỏi
này thường sử dụng cụm từ “có hay không?”,..
18
Giai đoạn kết thúc phỏng vấn: Dựa trên các thông tin đã thu thập
được kiểm toán viên đánh giá và đưa ra kết luận của mình. Nếu những kết
luận có tính chất quan trọng thì kiểm toán viên cần đưa vào hồ sơ kiểm toán.
Ưu điểm của phương pháp này là giúp kiểm toán viên thu thập được
thông tin phản hồi, củng cố những luận cứ của kiểm toán viên.
Nhược điểm của phương pháp này là cung cấp những bằng chứng có độ
tin cậy không cao do đối tượng phỏng vấn chủ yếu là cán bộ trong công ty,
không có tính độc lập với đơn vị được kiểm toán, chất lượng của bằng chứng
phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết của người được phỏng vấn về vấn đề
quan tâm. Vì vậy phương pháp phỏng vấn giúp thu thập bằng chứng củng cố
cho các bằng chứng khác.
1.2.6. Tính toán lại
Là quá trình kiểm toán viên kiểm tra tính chính xác về mặt số học trong
việc tính toán và ghi sổ. Ví dụ kiểm tra đối với việc tính toán về mặt số học
của giá trị hàng xuất kho, kiểm toán viên sẽ thực hiện tính lại theo phương
pháp kế toán áp dụng xem kế toán đã tính đúng chưa, kiểm tra việc cộng sổ,
chuyển từ sổ chi tiết sang sổ tổng hợp, sổ Cái, lập báo cáo…
Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến việc chính xác về mặt số học, không
quan tâm đến tính phù hợp của phương pháp sử dụng, do đó kỹ thuật này phải
kết hợp với các kỹ thuật khác như xác minh tài liệu, phân tích, kiểm kê,…
trong quá trình thu thập bằng chứng.
Ưu điểm của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao về
mặt tính toán số học. Tuy nhiên nhược điểm là các phép tính và phân bổ đôi
khi khá phức tạp, tốn thời gian đặc biệt khi đơn vị được kiểm toán có quy mô
lớn, loại hình kinh doanh đa dạng, các nghiệp vụ phát sinh với số lượng lớn…
Trong trường hợp này kiểm toán phải trang bị nhiều thiết bị tính toán hiện đại
sẽ rất tốn chi phí.
19
1.2.7. Phân tích
Là quá trình so sánh, đối chiếu, đánh giá các mối quan hệ để xác định
tính hợp lý của các số dư trên tài khoản từ đó rút ra kết luận về những nội
dung cần nghiên cứu. Các mối quan hệ bao gồm mối quan hệ giữa các thông
tin tài chính với nhau (mối quan hệ giữa lãi gộp với doanh thu, lợi nhuận sau
thuế so với doanh thu, doanh thu với giá vốn…), thông tin tài chính của doanh
nghiệp với thông tin của đơn vị trong cùng ngành có cùng quy mô hoạt động,
số liệu thống kê, định mức bình quân của ngành, ngoài ra cần phải so sánh
mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính. Đây là
kỹ thuật bao trùm trong toàn bộ quá trình kiểm toán, kỹ thuật phân tích
thường gồm ba yếu tố:
- Dự đoán là việc ước đoán về số dư tài khoản, giá trị của các chỉ tiêu, tỷ
suất hoặc xu hướng,..
- So sánh là việc đối chiếu số dự đoán trên với số liệu trên báo cáo.
- Đánh giá là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn và các kỹ thuật
khác ( phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi so
sánh.
Kỹ thuật phân tích dùng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu lực
gồm ba loại
Kiểm tra tính hợp lý: là việc thực hiện các so sánh cơ bản như
- So sánh giữa số liệu thực tế của đơn vị với số liệu kế hoạch, dự toán…
Kiểm toán viên sẽ tiến hành so sánh giữa số liệu của năm kiểm toán với số kế
hoạch đã đề ra, nếu thấy có sự chênh lệch lớn thì phải tìm ra nguyên nhân từ
đó phát hiện ra những sai sót, gian lận nếu có
- So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với chỉ tiêu bình quân của ngành.
Thông thường trong cùng một ngành thì các chỉ tiêu thường có sự tương
đồng, kiểm toán viên có thể so sánh giữa các chỉ tiêu của ngành với đơn vị để
20