Bài tiểu luận môn luật sở hữu trí tuệ quyền tài sản

  • 27 trang
  • file .pdf
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
MỤC LỤC
Danh sách thành viên ...................................................................................................... 3
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 4
1. Các quyền tài sản cơ bản ......................................................................................... 6
1.1. Quyền làm tác phẩm phái sinh ............................................................................. 7
1.2 Quyền được biểu diễn và truyền đạt tác phẩm ...................................................... 8
1.2.2 Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện kỹ thuật. ........ 10
1.3 Quyền nhân bản tác phẩm ................................................................................... 11
1.3.1 Quyền sao chép tác phẩm ............................................................................. 11
1.3.2 Các quyền khác ............................................................................................. 12
1.4 Quyền hưởng các lợi ích vật chất từ tác phẩm .................................................... 13
1.4.1 Quyền hưởng nhuận bút ............................................................................... 14
1.4.2 Quyền được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng ............................... 14
1.4.3 Quyền hưởng các lợi ích vật chất khác ........................................................ 15
1.4.4 Quyền được nhận giải thưởng với tác phẩm mình là tác giả ....................... 15
2. Chuyển giao quyền tài sản ..................................................................................... 15
2.1 Khái quát chung .................................................................................................. 15
2.2 Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan ...................................... 16
2.2.1 Khái niệm ...................................................................................................... 16
2.1.2 Đặc điểm pháp lý .......................................................................................... 17
2.1.3 Chủ thể của hợp đồng ................................................................................... 17
2.2.4 Đối tượng của hợp đồng ............................................................................... 18
2.2.5 Hình thức hợp đồng ...................................................................................... 18
1
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
2.2.6 Nội dung hợp đồng ....................................................................................... 19
3. Các phương thức bảo vệ quyền tài sản ..................................................................... 19
3.1 Các hành vi xâm phạm ........................................................................................ 19
3.2 Phương thức bảo vệ ............................................................................................. 21
3.2.1 Tự bảo vệ....................................................................................................... 21
3.2.2 Các biện pháp khác: ..................................................................................... 22
4. Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền tài sản đối với tác phẩm văn học khoa học
nghệ thuật và hạn chế ................................................................................................... 23
2
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
Nhóm 2 – Môn Luật Sở hữu trí tuệ
Danh sách thành viên
STT Họ tên Mã SV Phân công công việc Đánh giá
1 Đặng Trâm Anh 11060221
(nhóm trưởng)
2 Nguyễn Hồng Anh 11060256
3 Nguyễn Thị Giang 11060227
4 Phạm Thị Hằng 11060012
5 Lê Thị Thu Hương 11060265
6 Nguyễn Thị Mỹ 11060028
Linh
7 Phạm Khánh Ly 11060269
8 Cao Thị Thu Trang 11060280
9 Lương Huyền 11060261
Trang
3
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ - Trường Đại học Luật Hà Nội
2. Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ - Lê Nết
3. Tiểu Luận “Tác phẩm phái sinh” trong môn Sở hữu trí tuệ trong thương mại
quốc tế
4. Luận văn “Bảo hộ quyền của người biểu diễn”
5. Bài viết “Quyền của người biểu diễn” – Hoàng Hoa, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp
6. Bài viết “Bảo hộ tác quyền và quyền liên quan đối với các sáng tạo văn học
nghệ thuật và sản phẩm văn học” – Th.S Phạm Thị Kim Oanh- Phó Cục trưởng Cục
Bản quyền tác giả
7. Bài viết “Vi phạm quyền tác giả trong các trường Đại học ở Việt Nam” - Trần
Viết Long – Bộ môn Dân sự Khoa Luật Đại học Huế
8. Bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh” - TS. Trần Văn
Hải – Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
9. Bài viết “Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động
thông tin - thư viện” PGS, TSKH Bùi Loan Thùy, ThS. Bùi Thu Hằng - Trường
ĐHKHXH&NV - ĐHQG TP.HCM - Tạp chí Thư viện Việt Nam số 1(27) – 2011
(tr.16-23)
10. Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ Giáo sư Michael Blakeney - Viện nghiên
cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London (Bản dịch của Chương trình hợp tác
EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ)
11. Luật Dân sự 2005
12. Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009
13. Nghị định 100/2006/NĐ- CP Quy định chi tiết và hướng dẫ thi hành một số
điều của bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tắc giả và quyền liên quan
14. Nghị đinh 85/2011/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
4
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên
quan
15. Nghị định 61/2002/NĐ-CP Về chế độ nhuận bút
16. Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1971, sửa
đổi năm 1979
17. Công ước Rome Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản
ghi âm, tổ chức phát song 1961
18. Công ước Geneve Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao
chép không được phép bản ghi âm của họ 1971
19. Hiệp đinh TRIPS 1994
5
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
1. Các quyền tài sản cơ bản
Theo pháp luật Việt Nam, quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng và quyền được
hưởng thù các lợi ích vật chất từ tác phẩm.
Quyền sử dụng bao gồm quyền công bố, phổ biến, trình diễn, sao chép, cải biên,
chuyển thể, ghi âm, ghi hình, phát thanh truyền hình, cho thuê tác phẩm. Quyền sử
dụng này gắn liền với quyền nhân thân gắn với tài sản (cho/không cho sử dụng tác
phẩm). Vì thế, mọi hành vi sử dụng tác phẩm (sao chép, dịch, chuyển thể, v.v.) mà
không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là xâm phạm quyền tác giả, trừ những
trường hợp pháp luật có quy định khác. Các hành vi sử dụng tác phẩm quan trọng nhất
bao gồm:
- Sao chép và phân phối, bán tác phẩm: hành vi sao chép có thể bao gồm sao
chép toàn bộ tác phẩm hay một phần quan trọng của tác phẩm. Sao chép khác với trích
dẫn. Trích dẫn là việc sử dụng một phần tác phẩm (không đáng kể) của người khác để
nêu bật ý tác giả. Việc trích dẫn phải không đơn thuần vì mục đích kinh doanh, không
làm ảnh hưởng đến việc sử dụng bình thường tác phẩm và phải nêu nguồn gốc tác
phẩm. Các hành vi sử dụng không phải là trích dẫn đều có thể bị coi là sao chép và
phải được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả. Sao chép có thể tiến hành dưới
dạng trực tiếp (thí dụ thu băng đĩa, photocopy, sao phần mềm trên ổ cứng máy vi tính)
hay dưới dạng gián tiếp (thí dụ dùng máy ghi âm, máy quay phim để ghi âm, ghi hình
buổi hoà nhạc hay một bộ phim chiếu ở rạp).
- Công bố, phổ biến, phát thanh, truyền hình: quyền này còn được gọi là quyền
"truyền thông đến công chúng" (communication to the public) bao gồm các hành vi
trình diễn, phân phối tác phẩm đến một số lượng đáng kể người sử dụng. Thí dụ bao
gồm trình diễn một vở kịch hay một buổi hoà nhạc, phát hành một đĩa nhạc. Việc đưa
một tác phẩm lên mạng ngày nay cũng được coi là truyền thông đến công chúng.
- Dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, tuyển tập, chú giải (còn gọi là làm tác
phẩm phái sinh). Khi một người muốn dịch, cải biên, chuyển thể một tác phẩm, họ
phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả gốc, bởi vì những hành vi kể trên là những
hành vi sử dụng tác phẩm, mà chủ sở hữu quyền tác giả có quyền cho hay không cho
(Điều 757 BLDS). Ngoài ra, khi một nhà xuất bản muốn phát hành một tác phẩm viết,
cũng phải xin chấp thuận của chủ sở hữu quyền tác giả. Mọi hành vi sử dụng tác
phẩm mà không được sự đồng ý từ trước của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là
xâm phạm quyền tác giả (trừ các trường hợp sử dụng hạn chế do pháp luật quy định).
Tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể được coi là những tác phẩm riêng,
khác với tác phẩm gốc.
6
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
Quyền tài sản được quy định cụ thể trong khoản 1 Điều 20 luật sở hữu trí tuệ
năm 2005 quy định như sau:
“ Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến,
mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.”
1.1. Quyền làm tác phẩm phái sinh
Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác
phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.
Dịch thuật có nghĩa là thể hiện một tác phẩm bằng một ngôn ngữ khác với ngôn
ngữ của tác phẩm gốc. Ngôn ngữ ở đây là để chỉ các từ ngữ được dùng cho việc giao
tiếp giữa con người, cho nên không bao gồm ngôn ngữ máy tính. Tương tự, việc
chuyển đổi ngôn ngữ từ ngôn ngữ của một địa phương sang một dạng phổ thông của
ngôn ngữ hoặc dạng hệ thống mã hóa, hệ thống chữ nổi... không được coi là dịch
thuật, mà sẽ được coi là một hình thức của sao chép. Nói cách khác, quyền dịch thuật
nói chung có nghĩa là quyền dịch tác giả gốc sang một ngôn ngữ nước ngoài.
Cải biên có nghĩa là việc tạo ra một tác phẩm âm nhạc bằng việc thêm những yếu
tố sáng tạo mới vào tác phẩm âm nhạc sẵn có.
Phóng tác có nghĩa là thay đổi hình thức thể hiện.
Chuyển thể có nghĩa là việc dùng tác phẩm gốc và thay đổi hình thức thể hiện
bằng việc chuyển tác phẩm đó thành một vở kịch hay một bộ phim mà không thay đồi
cốt truyện hoặc chủ đề. Hình thức chuyển thể bao gồm cả việc chuyển thể một tác
phẩm thành phim truyền hình. Việc nâng cấp các chương trình máy tính...cũng được
coi là chuyển thể.
Mâu thuẫn thường xảy ra xung quanh quyền chuyển thể bởi vì rất khó để xác
định một tác phẩm là thực sự được chuyển thể, theo đó hình thức thể hiện tác phẩm
7
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
(hình thức bên ngoài) được thay đổi trong ý chính (hình thức bên trong) của tác phẩm
không thay đổi, hay đó chỉ là việc khai thác ý tưởng. Thậm chí một số người đã tranh
luận rằng việc chuyển thể có nghĩa là khai thác ý tưởng. Các ý tưởng không được bảo
hộ bằng quyền tác giả nhưng vì quyền chuyển thể được bảo hộ như một yếu tố của
quyền tác giả nên đã làm phát sinh mâu thuẫn này. Nói chung, những trường hợp mà
chỉ hình thức thể hiện ban đầu là thay đổi trong khi câu chuyện và các nét tính cách
của nhân vật không thay đổi hiển nhiên được coi là chuyển thể.
 Khai thác tác phẩm phái sinh:
Như đã giải thích ở trên: tác phẩm phái sinh là một tác phẩm mới được tạo ra từ
việc dịch thuật, cải biên, phóng tác hay chuyển thể. Mặc dù quyền tác giả đối với tác
phẩm phái sinh này thuộc về người dịch thuật, người cải biên, người phóng tác hay
người chuyển thể, nhưng tác giả của tác phẩm gốc cũng có quyền giống như quyền
của người dịch thuật, người cải biên, người phóng tác hay người chuyển thể. Ví dụ,
một người muốn ghi ra đĩa video một bộ phim hoạt hình phỏng theo một truyện tranh
nhằm mục đích thương mại, thì người đó phải xin phép cả chủ sở hữu quyền tác giả
đối với phim hoạt hình và chủ sở hữu quyền tác giả của truyện tranh gốc. Nếu chỉ có
một trong hai chủ sở hữu đó đồng ý thì vẫn chưa đủ mà việc đó phải được tất cả các
chủ sở hữu quyền tác giả cho phép.
Quyền khai thác các tác phẩm phái sinh là một loại của tập hợp quyền thuộc luật
quyền tác giả và quyền đó chỉ thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả. Mặt khác, mặc dù
không phải là thuật ngữ pháp lý trong luật quyền tác giả, thuật ngữ quyền thứ cấp dựa
trên việc sử dụng thứ cấp một ấn phẩm, và nó được sử dụng rộng rãi trong ngành xuất
bản của mỗi nước để nói về các hình thức khai thác với việc xuất bản một ấn phẩm
được sáng tạo ra từ tác phẩm gốc. Trong các hợp đồng xuất bản, các tác giả và nhà
xuất bản phải có những thỏa thuận khác nhau liên quan đến các quyền thứ cấp này.
Những người phổ biến tác phẩm như những nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát
sóng và truyền hình cáp cũng như những người biểu diễn, chẳng hạn như các nghệ sĩ
và nhạc sĩ cũng có các quyền này. Tại Việt Nam và một số nước khác như Nhật Bản,
Hàn Quốc, quyền này được bảo hộ dưới một tên gọi riêng trong luật sở hữu trí tuệ, là
“các quyền liên quan” để tránh nhầm lẫn với các quyền tác giả.
1.2 Quyền được biểu diễn và truyền đạt tác phẩm
a) Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng
Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là loại hình quyền được hầu hết luật
pháp các quốc gia, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 công nhận và bảo
hộ. Một tác phẩm có thể đến với công chúng bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng
8
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
thông qua người biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác phẩm
trở nên sinh động và có sức truyền thụ tới công chúng nhanh nhất. Chính vì vậy, dù
các hình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn không ngừng
gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển. Người biểu diễn là
cầu nối giữa tác giả và công chúng góp phần truyền bá, lưu giữ và phát triển các tác
phẩm có giá trị, do đó pháp luật đã công nhận và bảo hộ các quyền của người biểu
diễn đối với cuộc biểu diễn của mình.
Quy mô và tính chất của cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người
biểu diễn. Để thực hiện một cuộc biểu diễn lớn cần có sự hợp tác của rất nhiều người
nhưng chỉ những người trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người
biểu diễn và về nguyên tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn.
Những ai được coi là người biểu diễn được quy định rõ tại điều 3 (a) Công ước
quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất ghi âm và tổ chứng phát sóng ( Công
ước Rome): “ người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và các người
khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học,
nghệ thuật”. Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng quy định người biểu diễn bao
gồm: “diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm
văn học, nghệ thuật”.
Tuy nhiên, các quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng không phải luôn luôn
thuộc về người biểu diễn. Chủ sở hữu quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn có thể là tổ
chức, cá nhân khác được chuyển giao quyền hoặc tổ chức, cá nhân đã đầu tư tài chính,
kinh phí và cơ sở vật chất để thực hiện cuộc biểu diễn. Các quyền tài sản gắn liền và
là cơ sở pháp lý để khai thác các lợi ích kinh tế từ các cuộc biểu diễn.
Quyền biểu diễn mà chính xác là quyền biểu diễn công cộng là một trong những
quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền này được quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ và được giải thích rõ hơn tại Điều 23 Nghị định
100/2006/NĐ- CP, theo đó quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng do chủ sở hữu
quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác
phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ
phương tiện nào mà công chúng có thể tiếp cận được. Quy định này phù hợp với quy
định tại Điều 11 (1) Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học về quyền đối với tác phẩm kịch và âm nhạc: “ Tác giả các tác phẩm kịch, nhạc
kịch và ca nhạc giữ độc quyền cho phép: biểu diễn và hòa tấu công cộng tác phẩm
của mình, kể cả hòa tấu công cộng bằng tất cả mọi phương pháp hay kỹ thuật: truyền
phát tới công chúng buổi biểu diễn và hòa tấu đó bằng bất kỳ phương pháp nào”. Như
vậy, việc trình bày tác phẩm, phát sóng hay làm cho công chúng có thể tiếp cận được
9
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
tác phẩm đều thuộc phạm vi quyền biểu diễn và các quyền này được quy định rõ ràng
hơn tại Điều 11bis, Điều 14, 14bis và 14ter Công ước Berne. Khi tổ chức, cá nhân
muốn biểu diễn một tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đến công chúng phải xin
phép và trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, trong những trường hợp
pháp luật quy định không phải xin phép thì phải trả tiền bản quyền cho việc sử dụng
quyền biểu diễn theo quy định. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam,
quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là đọc quyền của chủ sở hữu quyền tác
giả đối với nhiều loại tác phẩm những trong thực tế chỉ sở hữu quyền tác giả đối với
tác phẩm âm nhạc là đối tượng khai thác và được hưởng lợi nhiều nhất từ quyền này.
1.2.2 Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện kỹ
thuật.
Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng là quyền truyển tải tác phẩm hoặc
bản sao của tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng
thông tin điện tử hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác mà công chúng có thể tiếp
cận được tác phẩm đó. Đây là độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, do đó quyền
này sẽ do chính chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép nguồi khác thực
hiện để đưa tác phẩm đến với công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật nhất
định mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa
chọn.
Loại hành vi chủ yếu bị hạn chế bởi quyền tác giả bao gồm các hành vi phát sóng
tác
phẩm và truyền đạt tác phẩm đến với công chúng bằng phương tiện dây hoặc cáp. Khi
một tác phẩm được phát sóng, ký hiệu không dây được phát lên không trung mà trong
phạm vi của nó bất kỳ người nào cũng có thể tiếp nhận, miễn là người đó có công
cụ (bộ tiếp nhận đài hoặc vô tuyến) cần thiết để chuyển hóa ký hiệu này thành các
âm thanh hoặc âm thanh và hình ảnh.
Khi một tác phẩm được truyền đạt tới công chúng bằng đường cáp, ký hiệu được
khuếch tán mà chỉ những người có công cụ kết nối với đường cáp dùng để khuếch tán
ký hiệu mới có thể tiếp nhận được. Theo Công ước Berne, chủ sở hữu quyền tác giả có
quyền tuyệt đối trong việc cho phép cả hai việc: phát sóng không dây và
khuếch tán bằng đường cáp các tác phẩm của mình.
10
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
1.3 Quyền nhân bản tác phẩm
1.3.1 Quyền sao chép tác phẩm
Trước tiên cần khẳng định rằng quyền sao chép tác phẩm là một trong những
quyền tài sản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền
này được bảo hộ từ góc độ pháp luật quốc tế, cả từ pháp luật quốc gia.
Dưới góc độ pháp luật quốc tế, Điều 9 Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn
học và nghệ thuật quy định: “Tác giả có các tác phẩm văn học, nghệ thuật được Công
ước này bảo hộ, được hưởng độc quyền cho phép sao in tác phẩm dưới bất kỳ phương
thức hay hình thức nào”. Các tác phẩm văn học nghệ thuật được công ước liệt kê tại
Điều 2 bao gồm “tất cả các sản phẩm trong linh vực văn học nghệ thuật và khoa học,
bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách,
tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, các bài phát biểu”. Như vậy, theo quy
định trên thì giáo trình, đề cương bài giảng, sách tham khảo, sách chuyên khảo, các
luận án, luận văn, các bài viết trên các tạp trí chuyên ngành và các tài liệu khác đều là
tác phẩm được bảo hộ theo công ước Berne.
Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, Điều 738 BLDS 2005 và Điều 20 Luật SHTT
2005 đều quy định một trong những quyền tài sản của tác giả được pháp luật bảo hộ là
quyền sao chép tác phẩm. Pháp luật Việt Nam định nghĩa quyền sao chép tác phẩm là
“quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác
thực hiện việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào,
bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện
tử”. Thuật ngữ “sao chép” được giải thích là “việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng
bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm
thời tác phẩm dưới hình thức điện tử”. Bản sao tác phẩm được giải thích tại Điều 4
Nghị định 100/2006/NĐ-CP là “bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc
toàn bộ tác phẩm”.
Như vậy thì việc sao chép tác phẩm có thể được thể hiện dưới rất nhiều hình
thức. Trên thực tế quyền sao chép bao trùm rất nhiều hoạt động, bao gồm việc sao
chép nội dung hay hình ảnh bằng máy quét hay máy photocopy hay bất kỳ phương
tiện nào khác, việc ghi âm, ghi hình các bài giảng... Về nguyên tắc tác giả sẽ được
pháp luật bảo hộ quyền này trong suốt thời gian bảo hộ tác phẩm. Nếu sao chép tác
phẩm mà không được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì bị coi là
có hành vi xâm phạm quyền tác giả và tùy vào tính chất, mức độ vi phạm để áp dụng
các biện pháp, chế tài dân sự, hình sự hay hành chính. Một trong những nguyên tắc
của Luật Sở hữu trí tuệ là bảo đảm cân bằng về quyền và lợi ích của chủ sở hữu với
11
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
lợi ích của xã hội. Do đó, bên cạnh việc quy định độc quyền sao chép cho chủ sở hữu,
pháp luật còn quy định những hạn chế quyền tác giả đối với quyền sao chéo. Cụ thể,
khoản 2 Điều 9 Công ước Berne quy định “Luật pháp quốc gia thành viên có quyền
cho sao phép sao in tác phẩm trong một vài trường hợp đặc biệt, miễn là sự sao in đó
không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây thiệt thòi
bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả”. Ở đây, Công ước đã không chỉ
rõ những trường hợp nào có thể thực hiện việc sao chép tác phẩm mà không cần sự
xin phép của tác giả, không cần trả thù lao cho tác giả, mà để cho pháp luật của quốc
gia thành viên tự quy định cụ thể trong pháp luật nước mình. Tuy nhiên, hạn chế
quyền tác giả chỉ được thực hiện nếu thỏa mãn được một trong hai điều kiện. Thứ
nhất, sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm. Thứ
hai, sự sao in đó không gây thiệt thòi bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác
giả.
1.3.2 Các quyền khác
Một quyền khác càng ngày càng nhận được sự thừa nhận rộng rãi, kể cả trong
Hiệp định TRIPS, là quyền cho thuê các bản sao của một số loại hình tác phẩm
nhất định, ví dụ, các tác phẩm âm nhạc gồm tác phẩm ghi âm, tác phẩm nghe nhìn và
các chương trình máy tính. Quyền cho thuê được hợp pháp hoá bởi các tiến bộ công
nghệ đã khiến cho việc sao chép các dạng tác phẩm này trở nên hết sức dễ dàng; kinh
nghiệm ở một số nước cho thấy, các bản sao được làm bởi các khách hàng của các cửa
hàng cho thuê, và như vậy, quyền kiểm soát thực tế cho thuê là cần thiết nhằm ngăn
ngừa sự lạm dụng quyền được nhân bản của chủ sở hữu quyền tác giả. Cuối cùng, một
số luật bản quyền quy định cả quyền kiểm soát việc nhập khẩu các bản sao như một
phương tiện ngăn ngừa sự xói mòn nguyên tắc lãnh thổ của quyền tác giả; nghĩa là,
các lợi ích kinh tế hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả có thể bị đe doạ nếu anh
ta không thể thực hiện các quyền nhân bản và phân phối trên một căn cứ lãnh thổ.
a, Quyền phân phối bản gốc và bản sao tác phẩm
Phân phối tác phẩm là việc bán, cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng bản gốc và
bản sao tác phẩm bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà qua đó có thể
tiếp cận được tác phẩm. Xét về mặt kinh tế thì đây là một quyền quan trọng đảm bảo
cho tác giả thực hiện được mục đích kinh tế đối với tác phẩm của mình.
Đây là một quyền tài sản quan trọng luôn độc quyền thuộc về chủ sở hữu quyền
tác giả trong suốt thời gian tác phẩm được bảo hộ mà không phân biết tác phẩm được
công bố hay chưa.
b, Nhập khẩu bản sao tác phẩm
12
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
Đây là quyền tài sản thuộc mọi chỉ thể nói chung mà không phải độc quyền
thuộc về tác giả vì lý do mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền nhập khẩu bản sao để
phục vụ nhu cầu riêng theo nhu cầu của mình như kinh doanh kiếm lợi hoặc phục vụ
lợi ích cộng đồng...
Tuy nhiên việc nhập khẩu bản sao tác phẩm lại được quy định riêng và chỉ được
áp dụng trong trường hợp nhập khẩu không quá một bản theo NĐ 100/2006/NĐ-CPtại
khoản 2 Điều 24 “Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng quy
định tại điểm k khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ chỉ áp dụng cho trường hợp
nhập khẩu không quá một bản.”
c, Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính
Đối với tác phẩm điện ảnh và chương trình máy tính, chủ sở hữu quyền tác giả
của tác phẩm có quyền cho người khác thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm trong một
thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa các bên. Ý nghĩa chính của quyền tài sản này
là để họ khai thác tính năng kinh tế đối với tác phẩm của mình. Theo đó, bên sử dụng
phải trả cho chủ sở hữu tác phẩm một khoản tiền thuê để được khai thác, sử dụng tác
phẩm trong một khảng thời gian theo thỏa thuận của hai bên.
Đây là quyền duy nhất thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả, tuy nhiên nếu tác
phẩm là một chương trình máy tính độc lập, là đối tượng chủ yếu để cho thuê thì chủ
sở hữu có quyên cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Ngược lại, trong trường
hợp chương trình máy tính bị phụ thuộc, tức là nó được phát hành gắn liền với các
thiết bị, máy móc kỹ thuật khác thì chủ sở hữu không được thực hiện quyền tài sản
nêu trên.
1.4 Quyền hưởng các lợi ích vật chất từ tác phẩm
Pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước luôn thừa nhận và bảo vệ các quyền
của chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ mà họ sáng tạo ra. Các sản phẩm trí tuệ được sử
dụng nhằm mang lại những lợi ích về cả vật chất lẫn tinh thần nhất định cho người tạo
ra nó như quyền hưởng nhuận bút, quyền hưởng thù lao hay lợi ích vật chất khi tác
phẩm được sử dụng, biểu diễn, dịch, chuyển thể, thuê,… và quyền nhận giải thưởng
mà mình là tác giả theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật SHTT 2005 “Tổ chức, cá
nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1
Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù
lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.”
13
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
1.4.1 Quyền hưởng nhuận bút
Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009 ngoài quy định tại khoản 3 Điều 20 thì
không còn quy định cụ thể nào về quyền hưởng nhuận bút. Và cho đến nay ngoài Nghị
định 61/2002/NĐ-CP Về chế độ nhuận bút, chưa có văn bản dưới luật nào khác quy
định về quyền hưởng nhuận bút căn cứ trên Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Sở hữu trí
tuệ 2005.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 61/2002/NĐ-CP thì “Nhuận bút là khoản tiền do
bên sử dụng tác phẩm trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm khi tác phẩm được sử
dụng.” Ở đây, không có sự phân biệt loại hình tác phẩm được nhận nhuận bút. Theo
Điều 4 nghị định này thì các loại hình tác phẩm được phân loại thành 6 nhóm để theo
dõi và quản lý thuận lợi hơn:
“Điều 4: Nhóm nhuận bút của các loại hình tác phẩm
Các loại hình tác phẩm chia thành sáu nhóm nhuận bút, bao gồm:
1- Nhuận bút cho tác phẩm sử dụng dưới hình thức xuất bản phẩm;
2- Nhuận bút cho tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác;
3- Nhuận bút cho tác phẩm điện ảnh, vi-đi-ô;
4- Nhuận bút cho tác phẩm báo chí (báo in, báo điện tử);
5- Nhuận bút cho tác phẩm phát thanh, truyền hình (báo nói, báo hình);
6- Nhuận bút cho tác phẩm tạo hình (mỹ thuật), mỹ thuật ứng dụng và nhiếp
ảnh.”
Với mỗi loại hình tác phẩm thì NĐ 61/2002/NĐ-CP lại có những quy định về đối
tượng hưởng, mức hưởng nhuận bút và quỹ nhuận bút rất cụ thể và chi tiết.
1.4.2 Quyền được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng
Thù lao là khoản tiền mà tác giả của các tác phẩm tạo hình mĩ thuật, tạo hình ứng
dụng và nhiếp ảnh được trả khi tác phẩm đó được sử dụng để trưng bày, triển lãm.
Hay nói cách khác tác giả chỉ nhận được thù lao khi hội dủ 3 yếu tố sau: thứ nhất, đó
là tác phẩm đơn lẻ; thứ hai, tác phẩm này có đặc thù riêng như tranh ảnh, công tình mĩ
thuật, tượng đài, tượng điêu khắc,…; và cuối cùng là tác phẩm đó được người khác sử
dụng dưới hình thức trưng bày, triển lãm (sử dụng ngoài hợp đồng sử dụng tác phẩm).
14
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
1.4.3 Quyền hưởng các lợi ích vật chất khác
Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả ngoài quyền hưởng nhuận bút và
hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dung thì cũng đương nhiên có quyền hưởng được
các lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức: xuất
bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, chụp ảnh,
dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, thuê.
Chủ sở hữu không đồng thời là tác giả của tác phẩm quyền được hưởng các lợi
ích vật chất khi tác phẩm được sử dụng dưới các hình thức: xuất bản, tái bản, trưng
bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, chụp ảnh, dịch, phóng tác,
cải biên, chuyển thể, thuê là quyền tài sản duy nhất mà họ được hưởng.
Còn đối với tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, họ không có quyền
được hưởng các lợi ích vật chất này.
1.4.4 Quyền được nhận giải thưởng với tác phẩm mình là tác giả
Các giải thưởng trong lĩnh vực văn học – khoa học – nghệ thuật luôn rất đa dạng
và có nhiều cách bình chọn giải thưởng khác nhau, nhưng điểm chung lớn nhất của
các giải thưởng này luôn là sự công nhận về chất lượng của tác phẩm và tính sáng tạo
của người tạo ra tác phẩm, mang dấu ấn riêng cá nhân. Vì thế, quyền nhận giải thưởng
luôn thuộc tác giả bất tác giả đó có đồng thời là chủ sở hữu hay không.
2. Chuyển giao quyền tài sản
2.1 Khái quát chung
Chuyển giao quyền tài sản đối với tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được
hiểu là việc chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền tác
giả, theo quy định của pháp luật. Các giấy phép sử dụng quyền tác giả chỉ bao hàm
việc cấp quyền sử dụng quyền tài sản, còn việc chuyển giao quyền tác giả chính là
chuyển quyền sở hữu quyền tác giả. Người chuyển giao quyền tác giả được coi là
người chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả. Người chuyển giao đầu tiên nhìn
chung là tác giả hoặc người thừa kế của tác giả. Người được chuyển giao quyền tác
giả được coi là người nhận chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả.
Điều 742 BLDS 2005 qui định:
“Quyền nhân thân quy định tại các điểm a, b và khoản 2 Điều 738 của Bộ luật
này không được chuyển giao.
15
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
Quyền nhân thân quy định tại điểm c khoản 2 Điều 738 của Bộ luật này có thể
chuyển giao với các điều kiện do pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định.
Quyền tài sản có thể được chuyển giao toàn bộ hoặc từng phần theo hợp đồng
hoặc để thừa kế, kế thừa.”
Quyền tài sản của quyền tác giả bao gồm các quyền mang tính chất tài sản. Tổ
chức cá nhân được hưởng quyền tài sản, có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người
khác khai thác sử dụng các quyền này. Theo thông lệ, loại trừ những trường hợp giới
hạn quyền được luật quyền tác giả quy định thì, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền
cho phép hoặc ngăn cấm việc khai thác, sử dụng tác phẩm của mình; đặt điều kiện
thanh toán nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác đối với việc khai thác, sử
dụng tác phẩm trong thời hạn bảo hộ. Quyền tài sản bao hàm các quyền sao chép tác
phẩm để phân phối đến công chúng, truyền thông tác phẩm đến công chúng bằng
cách biểu diễn, phát sóng hữu tuyến hoặc vô tuyến kể cả truyền trên internet; tiến
hành dịch hoặc bất kỳ hình thức phóng tác nào,v.v… .
Theo Luật Sở hữu Trí tuệ và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
của Việt Nam thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền chuyển giao toàn bộ hoặc
một, một số quyền tài sản thuộc quyền tác giả theo hợp đồng. Tuy nhiên, tác giả
không được chuyển giao các quyền nhân thân trừ quyền công bố tác phẩm.
2.2 Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan
2.2.1 Khái niệm
Chuyển giao quyền tác giả là sự chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền tài
sản liên quan đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật. Các giấy phép sử dụng
quyền tác giả chỉ bao hàm việc cấp quyền sử dụng quyền tài sản, còn việc chuyển giao
quyền tác giả chính là chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả.
Người chuyển giao quyền tác giả được coi là người chuyển giao quyền sở hữu
quyền tác giả. Người chuyển giao đầu tiên được coi là tác giả hoặc người thừa kế của
tác giả. Người nhận chuyển giao quyền tác giả là người nhận chuyển giao quyền sở
hữu quyền tác giả.
Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả,
chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định cho
tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.
Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan là sự thoả thuận giữa các
bên mà theo đó chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu
16
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
một, một số quyền nhân thân, quyền tài sản của mình cho các cá nhân, tổ chức khác là
bên được chuyển nhượng.
2.1.2 Đặc điểm pháp lý
Đây là một hợp đồng dân sự đặc biệt, nên ngoài những đặc điểm của hợp đồng
dân sự mang tính chất song vụ, ưng thuận và có đền bù hoặc không có đền bù thì hợp
đồng này còn có một số đặc điểm:
- Đối tượng của hợp đồng là quyền nhân thân và quyền tài sản. Thông
thường quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản và theo quy định của pháp luật có
thể chuyển giao được. Tuy nhiên quyền nhân thân là một đối tượng rất hạn chế và chỉ
có một số quyền nhân thân nhất định mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng
này.
- Là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu: bên chuyển nhượng sẽ giao quyền
sở hữu đối với quyền nhân thân và quyền tài sản cho bên nhận chuyển nhượng. do đối
tượng của hợp đồng là những quyền năng mang tính chất vô hình nên việc “chuyển
giao” ở đây thể hiện sự chuyển giao về mặt pháp lý. Sau khi chuyển giao, bên chuyển
giao không có quyền sử dụng cũng như định đoạt các quyền năng đó.
2.1.3 Chủ thể của hợp đồng
a. Bên chuyển giao quyền tác giả bao gồm chủ sở hữu quyền tác giả và chủ sở
hữu quyền liên quan.
- Chủ sở hữu quyền tác giả theo Điều 36 Luật SHTT 2005 bao gồm:
Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả; các đồng tác giả đồng thời là chủ
sở hữu quyền tác giả; cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp
đồng với tác giả sáng tạo ra sản phẩm; người từa kế quyền tác giả; người được chuyển
giao quyền tác giả.
Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm do được chuyển giao, tác
phẩm khuyết danh, không có người quản lý, tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà
chủ sở hữu quyền tác giả chết nhưng không có người thừa kế.
- Chủ sở hữu quyền liên quan là chủ đầu tư cuộc biểu diễn, nhà sản xuất, ghi
âm, ghi hình, tổ chức phát song, chủ thể này có quyền định đoạt, chuyển nhượng một,
một số hoặc toàn bộ quyền tài sản này cho người khác.
Trong trường hợp có đồng sở hữu phải được sự đồng ý của tất cả các đồng sở
hữu. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều người cùng sáng tác một tác phẩm nhưng có sự
17
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
tách biệt rõ ràng giữa các phần sáng tác. Trường hợp này, các tác giả có quyền chuyển
giao phần quyền tài sản trong phần sáng tác của mình mà không cần sự đồng ý của các
đồng sở hữu.
b. Bên được chuyển nhượng quyền tác giả quyền liên quan là cá nhân, tổ chức
được chuyển nhượng các quyền tài sản.
Sau khi được chuyển nhượng quyền tác giả quyền liên quan thì bên được chuyển
nhượng trở thành chủ sở hữu với các quyền đó.
2.2.4 Đối tượng của hợp đồng
- Các quyền của chủ sở hữu quyền tác giả
- Các quyền của chủ sở hữu quyền liên quan.
Như vậy ngoài duy nhất quyền nhân thân của chủ sở hữu quyền tác giả là quyền
công bố tác phẩm thì các quyền còn lại thuộc đối tượng của hợp đồng chuyển giao
quyền tác giả, quyền liên quan đều là các quyền tài sản. Các quyền này là tuyệt đối
thuộc sở hữu của chủ sở hữu và được hiểu là một loại tài sản do luật dân sự quy định.
Do vậy mà bên cạnh việc phải tuân theo quy định của Luật SHTT thì phải tuân theo
những quy định về hợp đồng dân sự. Nếu đối tượng của hợp đồng này là tác phẩm,
bản ghi âm, băng ghi hình thì hợp đồng đó là hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho tài
sản chứ không phải hợp đồng chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan.
2.2.5 Hình thức hợp đồng
Hình thức của hợp đồng chuyển nhượng được quy định tại Điều 46 Luật SHTT
2005 như sau:
“Điều 46. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan
1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành
văn bản gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng;
b) Căn cứ chuyển nhượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
đ) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.”
18
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
Hợp đồng được thành lập bằng văn bản và có công chứng, chứng thực nhằm bảo
vệ lợi ích cho các bên và khẳng định vị trí độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả,
quyền liên quan.
2.2.6 Nội dung hợp đồng
Điều 46 Luật SHTT 2005 quy định các nội dung sau là bắt buộc trong một hợp
đồng chuyển nhượng quyền tác giả:
- Tên và địa chỉ đầy đủ bên chuyển nhượng và bên được
- Căn cứ chuyển nhượng
- Giá phương thức thanh toán
- Quyền nghĩa vụ các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Ngoài ra, khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên còn có thể thỏa thuận về các
nội dung khác như hình thức chuyển nhượng, điều kiện chuyển nhượng… miễn không
trái điều cấm của pháp luật và vi phạm đạo đức xã hội.
3. Các phương thức bảo vệ quyền tài sản
3.1 Các hành vi xâm phạm
- Quyền của chủ sở hữu quyền tác giả bị xâm phạm khi những người khác thực
hiện 1 trong những hành vi cần phải có sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm mà không
được sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm (quan hệ dân sự là đền bù – tương đương,
phải trả cho tác giả một khoản tiền tương đương)
- Xâm phạm là các hành vi sử dụng tác phẩm hay chương trình biểu diễn nhằm
mục đích thương mại và giao dịch kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu
tác phẩm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Quyền quan trọng nhất trong quyền tác giả hay quyền liên quan là quyền cho
hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm, chương trình biểu diễn, phát sóng của
mình. Nó thể hiện bản chất độc quyền của quyền tác giả và quyền liên quan. Chính vì
thế các hành vi xâm phạm luôn đồng nghĩa với việc bản chất độc quyền của các quyền
trên bị phá vỡ, cụ thể:
“1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
2. Mạo danh tác giả.
19
Nhóm 2 – Luật Sở hữu trí tuệ 2014
3. Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả, đồng tác giả
trong trường hợp có đồng tác giả.
4. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây
phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả.
5. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền (trừ
trường hợp có quy định khác).
6. Làm tác phẩm phái sinh nhưng không được phép của tác giả, chủ sở hữu
quyền (trừ trường hợp có quy định khác).
7. Sử dụng tác phẩm mà không dược phép của chủ thể quyền, không trả nhuận
bút, thù lao, quyền lợi vật chất (trừ trường hợp có quy định khác).
8. Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất
khác cho tác giả, hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
9. Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm
đến công chúng qua mạng truyền thông hoặc các phương tiện kỹ thuật số mà không
được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
10. Xuất bản tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyên tác giả.
11. Cố ý huỷ bỏ, làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền thực
hiện để bảo vệ quyền.
12. Cố ý xoá bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong
tác phẩm.
13. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu hoặc cho thuê
thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu biện pháp kỹ thuật để bảo
vệ quyền của tác giả đối với tác phẩm của mình.
14. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
15. Xuất khẩu, nhập khẩu bản sao tác phẩm mà không được chủ sở hữu quyền
tác giả cho phép” (Điều 28 Luật SHTT 2005).
20