Bài tập cá nhân triết học chủ nghĩa duy vật nhân bản phoiobac và vai trò của nó đối với sự ra đời củ (2)

  • 11 trang
  • file .pdf
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌ C
Đề tài
TRIẾT HỌC DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Giảng viên hướng dẫn: TS. BÙI VĂ N MƯA
Học viên thực hiện: NGUYỄN ĐỨC THÁ I
Lớp: Đêm 3
Khóa: 22
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .............................................................................................................2
Chương I: CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC..................3
1.1 Phoiơbắc là ai? ...............................................................................................3
1.2 Tri ết học nhân bản của Phoiơbắc ................................................................3
Chương 2: QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ TRIẾT HỌC NHÂN BẢN
CỦA PHOIƠBẮC .......................................................................................................7
Chương 3: VA I TRÒ CỦA TRIẾT HỌC NHÂ N BẢN VỚI SỰ RA ĐỜI
CỦA TRIẾT HỌC MÁC...........................................................................................9
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 10
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 1
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
LỜI NÓI ĐẦU
“Sự ra đời của triết học M ác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình
phát triển của tư tưởng triết học nhân loại. Nó là hình thức phát triển cao nhất
của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng”.
Trang 241, Giáo trình cao học-môn triết học, ĐH Kinh Tế TPHCM
Sự ra đời của triết học M ác có vai trò rất lớn, xây dựng nên một hệ tư
tưởng mới về duy vât biện chứng. Đây là một điều tất yếu, là một sản phẩm của
lịch sử, vì sự ra đời này dựa trên những điều kiện về kinh tế-xã hội, lý luận, khoa
học tự nhiên cụ thể. Chính thế, nền tảng vững chắc này đã làm cho triết học M ác
khai sinh và phát triển thành công đến ngày hôn nay.
Qua thời gian, loài người đã trải qua một quá trình phát triển dài về mọi
mặt như xã hội, văn hóa, khoa học… và triết học cũng không nằm ngoài quy luật
phát triển không ngừng đó. Triết học Mác ra đời là sự kế thừa và phát huy mạnh
mẽ của nền triết học cổ điển Đức mà đại diện tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc.
Với phép biện chứng duy tâm của Hêghen, nhiều sai lầm đã được biểu hiện rõ
nét qua quan điểm duy tâm thần bí của nhà triết học này mà Mác và Ăngghen đã
từng phê phán. Còn ở một sự phát triển cao hơn, và tập trung vào con người
Phoiơbắc đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản, điều này được C.Mác
đánh giá rất cao, và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành triết học M ác về mặt tư
tưởng.
Qua bài tiểu luận này, tôi xin được phân tích về vai trò của triết học nhân
bản Phoiơbắc với sự ra đời của triết học Mác. Điều này thể hiện khi thứ nhất
chũng ta sẽ tìm hiểu về triết học nhân bản của Phoiơbắc, thứ hai chúng ta sẽ tìm
hiểu xem Mác đã đánh giá như thế nào về triết học nhân bản và cuối cùng tìm ra
cầu nối nào dẫn đến vai trò của triết học nhân bản đối với sự ra đời của triết học
M ác.
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 2
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
Chương I: CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC
1.1 Phoiơbắc là ai?
Lutvích Phoiơbắc (1804-1872), ông là đại diện cuối cùng cho nền triết học
cổ điển Đức. Năm 1823 với mục đích nghiên cứu tôn giáo, Phoiơbắc vào học tại
khoa thần học của trường đại học Heidelberg, sau đó năm 1824 ông chuyển đến
Berlin và theo học triết học của Hêghen và đã trở thành học viên xuất sắc của
người thầy này. Năm 1928, Phoiơbắc gởi cho Hêghen bản luận án về “Tính đơn
nhất, phổ biến và vô hạn”. Năm 1829 Phoiơbắc giảng dạy của mình tại trường
đại học Erlangen. Cũng ở đây, Phoiơbắc trình bày logic học, siêu hình học, và
khởi sinh tư tưởng nhân bản mà sau này phát triển thành chủ nghĩa duy vật nhân
bản với khái niệm trung tâm là tình yêu con người. Năm 1841 Phoiơbắc cho ra
mắt tác phẩm chính “Bản chất đạo Cơ đốc”, “Luận cương khởi đầu về cái cách
triết học” (1842), “Các luận điểm triết học cơ bản của tương lai”(1843).
1.2 Triết học nhân bản của Phoiơbắc
Phoiơbắc đã xây dựng quan điểm về con người, theo ông, ý chí, tư duy và
cảm xúc là những năng lực cơ bản được chế định bởi chính bản chất của con
người. Phoiơbắc đã mở cửa cho tình yêu, cho cái thiện đi vào suy tư của ông về
văn hoá và con người.
Cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa, mô hình cổ điển về văn hoá dựa trên ba nguyên lý cơ bản: nhân văn,
duy lý và lịch sử đã được hình thành trong triết học cổ điển phương Tây. Mô
hình này đã phát triển theo hai đường hướng lý giải chủ yếu: cách lý giải theo
chủ nghĩa tự nhiên thông qua các nhà Khai sáng Pháp và cách lý giải theo chủ
nghĩa duy tâm thông qua hai đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức - I.Cantơ
và G.V.Ph.Hêghen. Để mô hình cổ điển tiếp tục phát triển, nó cần phải được lý
giải trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và người thực hiện trọng trách đó chính là
Phoiơbắc.
Phoiơbắc bắt đầu học tập và nghiên cứu triết học với tư cách là học trò của
Hêghen. Trong hai năm, Phoiơbắc đã nhìn thấy những mâu thuẫn, những nghịch
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 3
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
lý trong hệ thống triết học của Hêghen. Tuy nhiên, việc đoạn tuyệt với triết học
duy tâm ấy cũng là một quá trình. Ông viết: “Hêghen đã chuyển những định
nghĩa, mà những định nghĩa này trong chính bản thân mình chẳng có chút gì
hiện thực cả,thành một cái gì đó độc lập. Sự việc cũng lại như thế với tồn tại ở
phần mở đầu của “Khoa học lôgíc”. Có thể hiểu tồn tại theo cách nào khác như
tồn tại không hiện thực, tồn tại không có thật? Vậy thì khái niệm tồn tại là
gì trong sự khác biệt với khái niệm tồn tại hiện tồn, hiện thực, thật sự? Dĩ nhiên,
đó chính là hư vô...”. Vấn đề là ở chỗ, với Phoiơbắc, tồn tại thống nhất với cái
mang sự tồn tại, không thể có khả năng cái này tách biệt khỏi cái kia. Kết cục, cả
hai đường hướng của chủ nghĩa duy tâm Đức - Sêlinh và Hêghen đều cùng phạm
một sai lầm: không thừa nhận tồn tại và không biết đến tồn tại thực sự. Vượt ra
khỏi những cái bóng của cả Sêlinh lẫn Hêghen, Phoiơbắc đã xây dựng một chủ
nghĩa duy vật mới – chủ nghĩa duy vật nhân bản.
Trong Những trích đoạn đặc trưng cho tiểu sử triết học của tôi, Phoiơbắc
tuyên bố rằng, “Phương pháp của tôi nằm ở chỗ (…) đưa tất cả những cái siêu tự
nhiên về với tự nhiên nhờ có con người và đưa tất cả những cái siêu nhân về với
con người nhờ có tự nhiên, nhưng thường xuyên chỉ dựa vào những sự kiện lịch
sử, kinh nghiệm, trực quan và những ví dụ”. Trecnưsepxki cũng đã từng trình
bày phương pháp duy vật nhất nguyên của mình một cách tương tự như vậy khi
cho rằng, nguyên tắc nhân bản chính là việc nhìn nhận con người như một thực
thể thống nhất, chỉ có một bản tính chứ không phải phân chia cuộc sống con
người thành hai nửa thuộc về những bản tính khác nhau. Theo sự giải thích của
Phoiơbắc, con người là một sinh vật có hình thể, vật chất, ở trong không gian và
thời gian và chỉ như vậy, nó mới có năng lực quan sát và suy nghĩ.
Trong chương mở đầu cuốn Bản chất đạo Thiên Chúa giáo – tác phẩm chủ
yếu của Phoiơbắc, ông đã bàn về bản chất chung của con người. Trước những
câu hỏi: bản chất con người là gì? Đâu là những dấu hiệu người thực sự trong
mỗi con người?… Phoiơbắc đã trả lời rằng, đó chính là lý trí, ý chí và trái tim.
Ông khẳng định: “Con người hoàn thiện có sức mạnh của tư duy, sức mạnh của
ý chí và sức mạnh của tình cảm. Sức mạnh của tư duy là ánh sáng của sự nhận
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 4
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
thức, sức mạnh của ý chí – năng lực của tính cách, sức mạnh của tình cảm – tình
yêu. Lý trí, tình yêu và sức mạnh của ý chí - đó là những hoàn thiện. Bản chất
tuyệt đối và cao quý của con người như nó vốn có và là mục đích cho sự tồn tại
của nó nằm ở trong ý chí, tư duy và cảm xúc. Con người tồn tại để nhận thức,
yêu thương và ham muốn. Nhưng mục đích của lý trí là như thế nào? – Lý trí.
Của tình yêu? – Tình yêu. Của ý chí? – Tự do ý chí. Chúng ta nhận thức để nhận
thức, yêu thương để yêu thương, mong muốn để ham muốn, nghĩa là tự do. Thực
thể chân chính là thực thể biết tư duy, biết yêu thương và biết hy vọng nhờ ý chí.
Cái hoàn thiện thực sự, thần thánh thực sự chỉ là cái tồn tại vì chính bản thân
mình. Tình yêu, lý trí và ý chí là những cái như thế. “Ba ngôi” thần thánh được
biểu hiện trong con người và thậm chí ở trên những con người cá nhân trong sự
thống nhất của lý trí, tình yêu và ý chí”.
Quan điểm của Phoiơbắc về con người là một trong những thành tựu của
triết học trước Mác. Nhận xét về công lao của Phoiơbắc trong việc nghiên cứu
vấn đề con người, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, Phoiơbắc đã làm cho chủ
nghĩa duy vật được đồng nhất với chủ nghĩa nhân đạo. Nhà triết học duy vật Đức
vĩ đại này đã xây dựng quan điểm về con người trong trường văn hoá trên cơ sở
suy ngẫm và phê phán các di sản tư tưởng trước đó. Hơn ai hết, ông hiểu rõ tính
phiến diện, tính hạn chế của hàng loạt các chủ nghĩa khác nhau, như chủ nghĩa
kinh nghiệm, chủ nghĩa duy cảm, chủ nghĩa duy lý. Những công trình về lịch sử
triết học được ông viết từ năm 1833 tới năm 1838 đã minh chứng điều đó.
Phoiơbắc đã phê phán triết học phi lý của Sôphenhaoơ - người đã tuyên bố rằng
ý chí “là khởi nguyên tuyệt đối của mọi tồn tại”.
Trong việc xác định và làm sáng tỏ mối quan hệ tương hỗ giữa các năng
lực bản chất của con người, Phoiơbắc đã sử dụng phép biện chứng với tư cách là
công cụ nhận thức và khám phá bản chất của hiện tượng. Đối với Phoiơbắc, ý
chí, tư duy và cảm xúc không chỉ là những năng lực cơ bản của con người, mà
còn là những sức mạnh bị chế định bởi chính bản chất của con người, là mục tiêu
và phương tiện tồn tại của con người: “Chúng là những thành tố cơ bản luận
chứng cho bản chất của con người... Đó là những sức mạnh sống động, quyết
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 5
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
định và thống trị, đó là những sức mạnh thần thánh, tuyệt đối mà con người
không thể nào phản kháng được”. Việc nhìn nhận bản chất con người trong sự
thống nhất biện chứng của ý chí, tư duy và cảm xúc đã cho phép Phoiơbắc đi sâu
nghiên cứu, phân tích chi tiết từng năng lực người riêng biệt với tư cách là
những thành tố cơ bản của văn hoá qua lý luận nhận thức, đạo đức học và mỹ
học của ông.
Phoiơbắc không chỉ tuyên bố, mà còn vận dụng nguyên lý nhân bản vào
học thuyết luân lý của mình. Ông cho rằng, sự khát khao hạnh phúc nằm trong
cơ sở hành động của con người.
Việc chứng minh luân lý cần phải được xây dựng trong sự mong muốn
thoả mãn những nhu cầu của con người đã giúp Phoiơbắc thoát khỏi chủ nghĩa
ích kỷ, thô tục. Theo ông, luân lý chân chính không có nghĩa là sự hạnh phúc và
sung sướng xa cách, biệt lập và không phụ thuộc vào những người khác. Nhưng,
làm thế nào để đạt tới sự hài hoà các quyền lợi và nhu cầu của mọi người, làm
thế nào để tạo sự hài hoà giữa bổn phận và hạnh phúc thì Phoiơbắc vẫn chưa trả
lời được rõ ràng. Tình yêu - đó là phương thuốc vạn năng, kỳ diệu mà Phoiơbắc
hy vọng có thể giải quyết mọi khó khăn trong đời sống hiện thực của con người
và ông kêu gọi mọi người hãy yêu nhau đi, hãy yêu tất cả mọi người không phân
biệt giới tính và danh vọng. Phoiơbắc đã mở cửa để cho tình yêu cùng với cái
thiện đi vào những suy ngẫm của ông về văn hoá và con người. Tình yêu đã trở
thành một thước đo độc đáo trong trường văn hoá.
Việc đánh giá như vậy về cảm giác, nhận thức cảm tính và sự chiêm
nghiệm thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của Phoiơbắc trong việc xác định đối tượng
của việc khai hoá hiện thực bằng con đường thẩm mỹ. Đó là cách tiếp cận duy
vật với nghệ thuật. Nếu như tính cảm giác của con người là một mắt xích trực
tiếp giữa tự nhiên và con người thì đối với Phoiơbắc, trong mức độ lớn, bản chất
đối tượng được đồng nhất với khách thể của cảm giác người. Ánh sáng là khách
thể của thị giác, nghĩa là tồn tại một sự tương quan giữa khách thể được tri giác
bởi các cảm giác người và tính cảm giác để tri giác khách thể này. Chính vì thế
mà chủ thể, với các cảm giác của mình, không chỉ bao trùm các hiện tượng của
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 6
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
thế giới bên ngoài, mà còn tự phản ánh mình ở trong các đối tượng đã được bao
trùm bởi chủ thể. Theo Phoiơbắc, điều đó hoàn toàn đúng cả trong việc khai thác
hiện thực bằng con đường thẩm mỹ, khi mà các cảm giác người và lý trí được
thể hiện một cách toàn bộ và bị phân hoá trong mối liên hệ tương hỗ. Việc sáng
tạo nghệ thuật cũng như sự cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi một sự phát
triển nhất định của chủ thể. Chỉ nhờ vào sự phát triển của cảm xúc thẩm mỹ và
tri giác thẩm mỹ, người nghệ sỹ mới có thể thấu hiểu “chân lý của cái cảm tính”
như là cái đẹp và thể hiện “cái Tôi bên trong”, những tư tưởng, những tình cảm
của mình trong các tác phẩm nghệ thuật.
Xem xét con người dưới góc độ của nguyên lý nhân bản, Phoiơbắc đã có
những đóng góp thực sự trong việc phát triển triết học văn hoá. Tuy nhiên,
Phoiơbắc cũng không tránh khỏi một số hạn chế nhất định; chẳng hạn, sau khi
phê phán và loại bỏ quan điểm duy tâm trong việc lý giải văn hoá và con người
cũng như việc thực thể hoá lý trí của Hêghen, Phoiơbắc lại đi thực thể hoá cảm
xúc trong triết học văn hoá của ông. Những hạn chế ấy của Phoiơbắc sau này
được C.Mác, Ph.Ăngghen khắc phục và vượt qua.
Chương 2: QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ TRIẾT HỌC NHÂN BẢN
CỦA PHOIƠBẮC
Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay
kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là s ự vật, hiện thực, cái cảm giác
được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực
quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con
người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan. Thành thử
mặt năng động đuợc chủ nghĩa duy tâm phát triển, đối lập với chủ nghĩa
duy vật, nhưng chỉ phát triển một cách trừu tượng, vì chủ nghĩa duy tâm dĩ
nhiên là không hiểu hoạt động hiện thực, cảm giác được, đúng như là hoạt
động hiện thực, cảm giác được. Phoiơbắc muốn xem xét những khách thể
cảm giác được, thực sự khác biệt với những khách thể của tư tưởng, nhưng
ông không xem xét bản thân hoạt động của con người, như là hoạt
Học viên: Nguyễn Đức Thái Trang 7