Áp dụng marketing địa phương cho việc phát triển ngành du lịch ninh bình

  • 28 trang
  • file .doc
Lời mở đầu
Cùng với sự quan tâm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngành du
lịch luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức, ở mỗi thời kỳ đều
xác định vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Trong quá trình đổi mới
đất nước, du lịch nước ta đã đạt được những thành quả ban đầu quan trọng,
ngày càng tăng cả quy mô và chất lượng, dần khẳng định vai trò, vị trí của
mình là ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân.
Du lịch không những tạo ra việc làm và thu nhập mà nó còn tạo ra
những quyết định mang lại lợi ích phụ liên quan đến các địa điểm kinh
doanh hoặc cư dân mới. Do đó, các địa phương luôn chủ động tìm cách tăng
thị phần trong ngành du lịch nhằm thu được hiệu quả cao nhất.
Hiện nay, các địa phương đều rất coi trọng phát triển ngành du lịch của
địa phương mình. Hơn nữa các địa phương ngày càng chú trọng hơn đến
việc làm marketing địa phương nhằm cải thiện tình hình kinh tế hiện tại và
tạo ra lợi thế so với các địa phương khác nhằm thu hút khách hàng mục tiêu,
đặc biệt là các du khách.
Nình Bình ngày càng chuyển mình để phù hợp với xu hướng đó. Ninh
Bình được đánh giá là địa phương đứng thú 2 cả nước về tiềm năng phát
triển du lịch chỉ sau Quảng Ninh.
Đề tài vận dụng marketing địa phương áp dụng cho phát triển ngành du
lịch của tỉnh Ninh Bình sẽ nêu lên một cách khái quát những lợi thế của
Ninh Bình về tiềm năng du lịch cũng như các chiến lược ưu đãi của chính
quyền đối với các nhà đầu tư trong ngành du lịch. Bên cạnh đó, cũng nêu lên
những hạn chế vẫn còn tồn tại trong ngành du lịch Ninh Bình và kiến nghị
một số giải pháp marketing nhằm giảm thiểu hạn chế còn tồn tại và đưa
ngành du lịch Ninh Bình phát triển xứng tầm với tiềm năng vốn có của nó.
ÁP DỤNG MARKETING ĐỊA PHƯƠNG CHO VIỆC PHÁT
TRIỂN NGÀNH DU LỊCH NINH BÌNH
1
I/Giới thiệu tổng quan về Ninh Bình
1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh
Nam Định và Hà Nam, phía Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây và Tây
Nam giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Tây và phía Đông Bắc giáp tỉnh Hoà Bình.
Nằm trên tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, cách thủ đô Hà Nội
hơn 90 km, ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, Ninh Bình còn có hệ
thống cảng biển, đường sông, đường biển thuận lợi, tạo điều kiện giao lưu,
hợp tác, phát triển toàn diện với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Ninh Bình có 1 thành phố, 1 thị xã và có 6 huyện với 144 xã,
phường. Mật độ dân số trung bình 657 người/km 2. Địa hình của Ninh Bình
được chia thành 3 vùng rõ rệt gồm: vùng đồi núi, nửa đồi núi; vùng đồng
bằng; vùng ven biển và biển. dãy núi đá vôi ở phía tây của tỉnh chạy theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam, bắt nguồn từ vùng rừng núi Hoà Bình chạy ra
biển tạo thành vùng phù sa cổ ven chân núi. Do qua trình tạo sơn hơn 200
triệu năm về trước, dãy núi đá vôi ở phía Tây của tỉnh có nhiều hang động
đẹp như: Bích Động, Tam Cốc, Địch Lộng, Xuyên Thuỷ Động, Bàn Long,
Hoa Sơn… Tiếp đó là vùng đồng chiêm trũng ở các huyện Nho Quan, Gia
Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, chứng tỏ khi biển bồi trong điều kiện kín sóng, lại
bị núi đồi, bao bọc che chở, nên không đủ phù sa bồi đắp để sót lại vùng sâu
trũng ngày nay. Biển bồi dần tạo nên vùng đồng bằng ven biển nam Yên
Khánh, Yên Mô, Kim Sơn.
1.1.3. Khí hậu
Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh
hưởng của khí hậu ven biển. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 oC, nhiệt độ
trung bình thấp nhất (tháng 1) khoảng 13 – 15 oC và cao nhất (tháng 7)
khoảng 28,5oC. Lượng mưa trung bình hàng năm trên 1.800 mm nhưng phân
bố không đều, tập trung 70% lượng mưa vào mùa hạ (từ tháng 5 đến tháng
9) mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
2
1.2 Tài nguyên thiên nhiên
1. Tài nguyên đất
Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 143.300 ha với các loại
đất: đất phù sa được bồi và đất phù sa không được bồi (thuộc vùng đồng
bằng ven biển) tạo điều kiện cho nuôi trồng thuỷ sản và cây công nghiệp; đất
phù sa cũ, chua, nghèo… (tập trung ở vùng đồng bằng trũng) thích ứng cho
thâm canh lúa, hoa màu; đất feranít (vùng nửa đồi núi) thích hợp phát triển
cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu. Trong tổng diện tích đất tự
nhiên của Ninh Bình, đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 6.900 ha,
chiếm 46,5% diện tích đất tự nhiên.
2. Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp có 32.700 ha, chiếm 21,4% tổng diện
tích tự nhiên toàn tỉnh và được quy hoạch; đất có rừng phòng hộ là 16.500
ha, rừng đặc dụng 14.300 ha và rừng sản xuất (kinh tế và cây ăn quả) là
1.900 ha.
Diện tích rừng hiện có là 14.368 ha (chiếm 45% diện tích đất lâm
nghiệp). Trong đó, rừng tự nhiên có 11.392 ha với tổng trữ lượng gỗ ước
khoảng 1,1 triệu m3, đây là rừng nguyên sinh trong phạm vi Vườn Quốc gia
Cúc Phương được bảo vệ. Còn lại là diện tích rừng trồng chủ yếu thuộc đối
tượng rừng phòng hộ mới trồng.
3. Tài nguyên khoáng sản
Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là đá vôi.
Tỉnh có nhiều núi đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét
khối và hàng chục triệu tấn đôlômít, chất lượng tốt. Đây là nguồn nguyên
liệu lớn cho sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng và một số hoá
chất. Ngoài ra, Ninh Bình còn có đất sét, phân bố rải rác ở các vùng núi thấp
thuộc thị xã Tam Điệp, các huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch
ngói và là nguyên liệu cho ngành đúc. Than bùn có trữ lượng 2 triệu
tấn/năm, phân bố ở Gia Sơn, Sơn Hà (Nho Quan) dùng để sản xuất phân vi
sinh.
1.3. Tiềm năng kinh tế
1. Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Nông nghiệp hiện nay vẫn là ngành tập trung nhiều lao động và diện
tích đất đai nhất, với hơn 80% dân số và 47% diện tích đất tự nhiên. Vì thế
sản xuất nông nghiệp của Ninh Bình vẫn được coi là mặt trận chính.
3
Trong những năm tới, các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu tại
chỗ như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng, đá,
gạch phải phát triển trở thành khâu đột phá, đưa nền kinh tế Ninh Bình tăng
tốc và ưu tiên hàng đầu là công nghiệp sản xuất xi măng.
Phát triển đa dạng ngành kinh tế thuỷ sản, trong đó nuôi thuỷ, hải sản
là trọng tâm, được coi là một khâu đột phá của ngành nông nghiệp và nền
kinh tế của tỉnh.
Với các khu du lịch, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đặc biệt khu cố
đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động là thế mạnh của tỉnh trong phát triển du
lịch.
2. Tiềm năng du lịch
Sự kỳ thú của thiên nhiên với những danh lam thắng cảnh đẹp, đa
dạng như Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu hang động Tam Cốc – Bích
Động, khu Địch Lộng, Vân Long… cùng với tài nguyên nhân văn như Cố đô
Hoa Lư, quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Non Nước, phòng tuyến Tam
Điệp - Biện Sơn… tạo điều kiện cho Ninh Bình phát triển những tuyến du
lịch hấp dẫn, đưa tỉnh trở thành địa bàn du lịch quan trọng của vùng Bắc Bộ
và cả nước.
1.4. Điều kiện xã hội
Nình Bình là một tỉnh lâu đời, đã từng là kinh đô của đất nước với
nhiều truyền thống về con người, văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc. Sau
khi bị hai cuộc chiến tranh tàn phá, Ninh Bình hợp nhất với hai tỉnh Nam
Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh và mới được tách tỉnh năm 1992.
Sau 15 năm tái lập tỉnh, Ninh Bình đã có nhiều bước chuyển biến mới
trong xây dựng đời sống mới cho nhân dân và cơ sở hạ tầng cho tỉnh. Năm
2007, thị xã Ninh Bình được công nhận là thành phố cấp 3 với nhiều ưu đãi
từ phía nhà nước và thu hút được nhiều nhà đầu tư.
Với sự ổn định trong các ban ngành lãnh đạo, kinh tế của Ninh Bình
đang ngày càng phát triển không ngừng, bộ mặt của tỉnh được thay đổi từng
ngày. Con người Ninh Bình cần cù và ham học hỏi, có truyền thống hiếu học
và chăm chỉ làm ăn từ muôn đời nay. Không chỉ có dân tộc Kinh, tại đây còn
có một số ít các dân tộc thiểu số khác như Mường tại khu vực huyện Nho
Quan, các chính sách phát triển xã hội luôn phải quan tâm đến nhiều mặt
trong đời sống.
4
II/Thực trạng ngành du lịch Ninh Bình
1.Đánh giá chung về cơ sở phát triển ngành du lịch
1.1 Cơ sở hạ tầng
Kiến trúc
Công tác quy hoạch: đã lập xong quy hoạch tổng thể cho 2 thị xã, 6 thị
trấn huyện lỵ trong tỉnh và lập trình duyệt 12 dự án quy hoạch chi tiết. Đã và
đang tiến hành lập quy hoạch cho 127 xã và trung tâm cụm dân cư trong
tỉnh. Đã thẩm định trên 1.700 lượt công trình và hạng mục công trình với
tổng dự toán trên 900 tỷ đồng. Tham gia cùng các ngành trong tỉnh xây dựng
giá và quản lý các chính sách về đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh
ngày càng có hiệu quả hơn
Xây dựng cơ bản
Những năm gần đây đã khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải mà
tập trung cho các công trình trọng điểm để khai thác tiềm năng thế mạnh của
tỉnh như: Nhà máy xi măng Tam Điệp, dây chuyền chế biến dứa Đồng Giao,
Nhà máy cán thép Tam Điệp. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát
triển nông nghiệp, nông thôn như: kênh 12B, hồ Yên Thắng, đường chống lũ
quét, cơ sở hạ tầng nuôi tôm Kim Sơn, các cơ sở hạ tầng giao thông và thoát
nước đô thị cũng được chú trọng như: đường 59A, WB2, nhà máy nước, hệ
thống thoát nước tây bắc thị xã Ninh Bình, dự án tây sông Vân; các công
trình phục vụ cho SeaGames 22 như: nhà thi đấu TDTT, sân vận động...
Nhiều công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng phát huy được hiệu qủa
đầu tư, góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội của tỉnh phát triển.
Giao thông vận tải
Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực nam đồng bằng Bắc bộ có hệ thống giao
thông thuận tiện cả đường bộ, đường thuỷ và đường sắt. Đường bộ có quốc
lộ 1A, số 10, 12A, 12B, 12C và quốc lộ 59A với tổng chiều dài là 120 km,
đường tỉnh lộ với 24 tuyến là 308 km; đường sông có tổng chiều dài là 387,3
km trong đó đường sông trung ương (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông
Vạc...) là 165,5 km, đường sông địa phương là 221,8 km, có cảng Ninh Bình
tàu từ 100- 400 tấn có thể ra vào thuận lợi, năng lực bốc xếp 1,4 triệu
tấn/năm; đường sắt có chiều dài 20 km với 4 ga (Ninh Bình, Cầu Yên,
Ghềnh, Đồng Giao). Đường bộ, đường sắt chiếm vị trí rất quan trọng trong
toàn bộ hệ thống giao thông vận chuyển hàng hoá, giao lưu kinh tế với các
vùng, miền trong cả nước
5
Những năm gần đây ngành giao thông đã tranh thủ sự hỗ trợ của Bộ
GTVT, các dự án Quốc tế, các ngành và các cấp để tăng cường đầu tư cho
cơ sở hạ tầng giao thông: đường quốc lộ rải nhựa 39,5 km (trong đó có 6,8
km đường bê tông nhựa); xây dựng 7 cầu (190,9m); 01 đập tràn 120 m;
đường tỉnh: rải nhựa 84,7 km; các công trình được đầu tư đảm bảo chất
lượng, kỹ, mỹ thuật đạt hiệu quả và phát huy tác dụng tốt.
Về vận tải: Kết quả vận tải từ năm 1992- 2001 đạt 28.873.000 tấn hàng hoá,
luân chuyển 657,8 triệu tấn; vận tải hành khách đạt 15.412.000 người; doanh
thu vận tải đạt 596.767 triệu đồng. Ngành đã điều tiết và duy trì hoạt động
thường xuyên 53 tuyến vận tải hành khách nội tỉnh, ngoại tỉnh đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của xã hội.
1.2 Các điểm hấp dẫn
1.2.1Các điểm hấp dẫn về thắng cảnh
Khu du lịch sinh thái Tràng An
Năm 2007 các nhà khảo cổ học đầu ngành
của nước Anh và các nhà khoa học Việt Nam đã
có những chuyến khảo sát Hang Báng - một trong
những hang động thuộc khu du lịch sinh thái
Tràng An. Các nhà khoa học đã phát hiện những
công cụ chặt bằng đá cuội thuộc thời kỳ văn hoá
Sơn Vi, những mảnh gốm thuộc thời kỳ văn hoá
Đa Mút
Phủ Khống - Khu du Trước đó, trong quá trình nạo vét các thung,
lịch sinh thái Tràng An các hang động, rất nhiều các cổ vật từ có niên đại
từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIV cũng được tìm
thấy. Đây là những tư liệu quý để các nhà khoa học tìm hiểu về thời đại đồ
đá cũ, về đời sống của người nguyên thuỷ, tìm hiểu về các triều đại Đinh,
Lê, Lý, Trần. Những phát hiện mới này sẽ là tiền đề quan trọng để tỉnh Ninh
Bình có hướng khoanh vùng bảo vệ, quy hoạch và đầu tư lớn vào khu du
lịch sinh thái Tràng An
Bên cạnh giá trị lịch sử khảo cổ học, Tràng An còn được biết đến như
là một khu sinh thái độc đáo với hơn 30 thung lớn nhỏ và gần 50 hang động
thung ao, kéo dài 20 km.
Cùng với khu hang động, khu du lịch Văn hóa tâm linh núi chùa Bái
Đính được xác định là điểm nhấn quan trọng trong khu du lịch sinh thái
6
Tràng An. Tại đây đã xây dựng những ngôi chùa lớn. Trong chùa đặt một
pho tượng Phật bằng đồng cao 10m, nặng 100 tấn đã được trung tâm sách kỷ
lục Việt Nam xác lập là pho tượng phật bằng đồng cao và nặng nhất Việt
Nam; 3 pho tượng Tam thế bằng đồng, mỗi pho nặng 50 tấn; 2 quả chuông
đồng, một quả nặng 27 tấn, một quả nặng 36 tấn; Đặc biệt khu núi chùa Bái
Đính còn có tượng các vị La Hán bằng đá nguyên khối với số lượng lớn nhất
khu vực Đông Nam Á.
Dự kiến đến đầu năm 2008, nhân kỷ niệm 1040 năm Vua Đinh Tiên
Hoàng lên ngôi hoàng đế - đó cũng là thời điểm diễn ra tuần lễ du lịch Ninh
Bình. Khu du lịch sinh thái Tràng An được đưa vào khai thác sẽ tạo lên bản
sắc riêng và sức bật mới cho du lịch Ninh Bình, góp phần đưa Ninh Bình trở
thành địa bàn quan trọng trong không gian du lịch Bắc Bộ.
Nhà thờ đá Phát Diệm - Tỉnh Ninh Bình
Nhà thờ Phát Diệm ở cách Hà Nội 130
km về phía Nam, được xây dựng vào
những năm 1875 - 1899. Ðây là một quần
thể kiến trúc phương Ðông gồm có (từ
hướng Nam đi vào): Ao hồ, Phương Ðình,
Nhà thờ lớn với bốn Nhà thờ cạnh ở hai
Nhà thờ đá Phát Diệm bên, ba hang đá nhân tạo, Nhà thờ đá.
Ao hồ hình chữ nhật, ở giữa là một hòn
đảo nhỏ, trên có đài chúa Giê su làm vua.
Phương Ðình là một kiến trúc đồ sộ bằng đá (chiều ngang 24m, chiều
sâu 17m, chiều cao 25m), trên vách phía ngoài và phía trong có những bức
phù điêu bằng đá. Bên trong phía trên có treo một chiếc trống cái và một quả
chuông (đúc năm 1890, cao 1,4m, đường kính 1,1m, nặng gần hai tấn).
Nhà thờ lớn dài 74 mét, rộng 21m, xây năm 1891, có bốn mái và sáu hàng
cột gỗ lim. Hai hàng giữa là 16 cột gỗ lim (cao 11m, chu vi 2,35m). Bàn thờ
chính là một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,8 mét, trên ba mặt có
chạm khắc hoa lá.
Hai bên nhà thờ lớn có bốn Nhà thờ nhỏ hơn, mỗi nhà thờ một kiểu. ở tận
cuối phía Bắc là 3 cái hang đá, đẹp nhất là hang đá Lộ Ðức ở phía Ðông
Bắc. Sau cùng ở góc phía Tây Bắc là Nhà thờ nhỏ, còn gọi là Nhà thờ đá vì
tất cả cột, xà, tường, chắn song, tháp đều bằng đá.
7
Nhà thờ Phát Diệm là một điểm hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
8
Cố đô Hoa Lư - Tỉnh Ninh Bình
Hoa Lư là kinh đô của nước Ðại Cồ Việt
(tên xa xưa của nước Việt Nam) có cách đây gần
10 thế kỷ thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư,
Cố đô Hoa Lư trước đây rộng khoảng 300 ha
được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung,
cảnh quan hùng vĩ. Khoảng trống giữa các sườn
Cố đô Hoa Lư núi được xây kín bằng đất ken gạch, chân thành có
gạch bó, đắp cao từ 8-10 mét. Kinh đô Hoa Lư bao
gồm Thành Ngoại, Thành Nội và Thành Nam.
Thành Ngoại rộng khoảng 140 ha thuộc địa phận thôn Yên Thành xã Trường
Yên. Ðây là cung điện chính mà khu vực đền Ðinh, đền Lê là Trung tâm và
cũng chính là nơi vua Ðinh Tiên Hoàng cắm cờ nước. Trước cung điện có
núi Mã Yên tương truyền vua Ðinh lấy núi làm án.
Thành Nội thuộc thôn Chi Phong, xã Trường Yên có tên là Thư Nhi xã,
nơi nuôi trẻ em và những người giúp việc trong cung đình.
Thành Nam (thành ở phía Nam, từ hang luồn trở vào trong, nằm đối diện và
nối liền với khu Thành Ngoại). ở đây xung quanh có núi cao bao bọc, án ngữ
phía Nam kinh thành, bảo vệ mặt sau, từ đây bằng đường thuỷ có thể nhanh
chóng rút ra ngoài.
Phía Ðông kinh thành có núi Cột cờ, nơi có lá quốc kỳ Ðại Cồ Việt, có
ghềnh tháp-nơi vua Ðinh duyệt thuỷ quân, hang Tiền nơi lưu giữ tài sản
quốc gia, động Thiên Tôn- tiền đồn của Hoa Lư và là hang nhốt hổ, báo để
xử kẻ có tội.
Ðến đời Lê Hoàn đã cho xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy: điện Bách
Thảo Thiên Tuế, điện Phong Lưu ở phía Ðông, điện Vinh Hoa ở phía Tây,
điện Bồng Lai bên tả, điện Cực Lạc bên hữu, lầu Hoả Vân và điện Trường
Xuân, điện Long Lộc được lợp ngói làm bằng bạc.
Trải qua mưa nắng hơn 10 thế kỷ, các di tích lịch sử ở cố đô Hoa Lư
hầu như bị tàn phá, đổ nát. Hiện nay chỉ còn lại đền vua Ðinh và đền vua Lê
được xây dựng vào thế kỷ XVII.
Vườn quốc gia Cúc Phương
Được thành lập ngày 7 tháng 7 năm
1962, Cúc Phương đã trở thành Vườn Quốc
Gia đầu tiên và cũng là đơn vị bảo tồn thiên
9
Vườn quốc gia Cúc
Phương
nhiên đầu tiên của Việt Nam. Với nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, sự
đa dạng về hệ sinh thái, các giá trị văn hoá lịch sử, từ lâu Cúc phương đã trở
thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn.
Cúc phương có đặc trưng là rừng mưa nhiệt đới, xanh quanh năm.
Hàng chục người ôm mới hết chu vi những cây đại thụ ngàn năm cao trọc
trời từ 45 đến 75mét như cây Đăng cổ thụ cao 45m đường kính 5m, cây Chò
Chỉ cao 70m đường kính 1,5m, cây Sấu cổ thụ cao 45m đường kính 1,5m,
cây Chò xanh ngàn năm cao 45m, chu vi gốc 25m.
Chẳng thua kém thế giới thực vật, khu hệ động vật Cúc Phương cũng
rất đa dạng và phong phú. Theo số liệu điều tra mới nhất Cúc Phương có 89
loài thú, 307 loài chim, 110 loài bò sát và lưỡng cư, 65 loài cá, và gần 2000
dạng côn trùng.
Trong các loài thú Cúc Phương, nhiều loài đã được xếp vào loại quý
hiếm, như báo gấm, báo lửa, gấu ngựa...và nhiều loài được là đặc hữu của
Cúc Phương như sóc bụng đỏ. ở Cúc Phương có một loài thú linh trưởng rất
đẹp, ngoài Việt Nam ra chúng không còn tồn tại nơi nào khác trên thế giới,
đó là loài Voọc mông trắng – một báu vật của tạo hoá, loài vật này đã được
chọn làm biểu tượng của Vườn Quốc Gia Cúc Phương.
Thế giới côn trùng Cúc Phương cũng đa dạng muôn hình muôn vẻ.
Mùa bướm nở, rừng già như trẻ lại tưng bừng lấp lánh ngàn vàng, bướm
nhiều vô kể đủ dạng, đủ mầu phơi bầy một bức tranh kỳ ảo.
Từ xa xưa Cúc Phương còn là nơi cư trú và sinh sống của đồng bào
Mường với những nét văn hoá riêng. Đó là những nếp nhà sàn, những trang
phục, những phong tục tạp quán, lễ hội cồng chiêng, những điệu hò ... mang
đận sắc thái văn hoá dân tộc Mường.
Tam Cốc – Bích Động
Ðộng nằm trong dãy núi Ngũ Nhạc Sơn
thuộc địa phận thôn Ðam Khê, xã Ninh Hải,
huyện Hoa Lư. Năm 1773, cụ Nguyễn Nghiễm
(thân sinh của đại thi hào Nguyễn Du) đã đến
thăm động.
Nhìn toàn cảnh núi, động, sông nước, đồng
ruộng, bầu trời ở đây đều phủ một màu xanh ngợp
mắt nên cụ đã đặt cho động một cái tên rất đẹp và
Tam Cốc
mộng mơ "Bích Ðộng" (có nghĩa là Ðộng Xanh).
Ðến đây du khách sau khi viếng thăm chùa, con thuyền nhỏ sẽ đưa du khách
đi quanh co trong hang núi huyền ảo. Bích Ðộng đã được mệnh danh là
10
"Nam Thiên đệ nhị động" (động đẹp thứ nhì ở trời Nam).
Từ Bích Ðộng du khách tiếp tục ngồi thuyền đi thăm Tam Cốc. Tam Cốc
nghĩa là ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba. Lúc thuyền luồn vào ba
hang, du khách sẽ cảm thấy mát lạnh. Thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô
nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo
1.2.2 Các điểm hấp dẫn về các loại hình văn hoá phi vật thể
Các di sản văn hoá phi vật thể bao gồm nghệ thuật hát chèo, hát ca trù,
hát xẩm, hát rằng thường, mo Mường và hàng loạt các lễ hội được tổ chức
khắp nơi.
Nghệ thuật hát chèo ở Ninh Bình có từ rất lâu. Lịch sử ghi lại bà tổ
chèo Phạm Thị Trân đã được Vua Đinh Tiên Hoàng (thế kỷ thứ X) phong
chức "Ưu bà" chuyên dạy hát chèo trong cung đình. Trải qua những thăng
trầm của lịch sử, nghệ thuật chèo ở Ninh Bình luôn được bảo tồn, phát triển
và trở thành một trong những cái nôi chèo có tiếng của cả nước. Nhiều tích
chèo, vở chèo như: Suý Vân, Tiếng gọi non sông...đã để lại dấu ấn sâu đậm
trong lòng công chúng yêu nghệ thuật.
Một loại hình nghệ thuật lưu tồn nhiều năm qua là hát xẩm. Tiêu biểu
là Nghệ sỹ ưu tú Hà Thị Cầu (Yên Phong, Yên Mô) nay đã gần 80 tuổi vẫn
tay kéo nhị, chân dập phách, miệng nhai trầu và hát xẩm rất hay.
Người Mường (Nho Quan) có hát Rằng thường, Mo Mường trong (lễ
tang của người Mường), hát Đúm, hát Sắc Bùa (là cả một nghi lễ) diễn ra
vào dịp mùa xuân với những bài hát rất đa dạng mang tính đặc thù, đặc
trưng của địa phương. Trong nhân dân còn lưu truyền hàng trăm câu
chuyện, văn thơ về vua Đinh, vua Lê, về nhà Trần. Đặc biệt là những di sản
văn hoá phi vật thể gắn liền với nhiều làng nghề truyền thống như đá mỹ
nghệ, thêu ren, nghề chạm khắc gỗ, tạc tượng, trồng dâu nuôi tằm, se đay,
chẻ cói, dệt chiếu... Và có biết bao nhiêu sự tích gắn liền với văn hoá dân
gian truyền miệng có giá trị thẩm mỹ, có tính giáo dục cao mà ngày nay cần
thống kê, sưu tầm, nghiên cứu để bảo tồn và phát huy về giá trị nhân văn,
đậm đà bản sắc dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá ở Ninh
Bình là một sự nghiệp lớn với quy mô cả bề rộng và chiều sâu có tầm quan
trọng cả trước mắt và lâu dài.
1.2.3 Lễ hội
Ninh Bình là vùng đất có nhiều lễ hội truyền thống. Hàng năm có lễ hội
truyền thống Cố đô Hoa Lư được tổ chức từ 8-10/3 âm lịch do nhà nước
(cấp tỉnh) tổ chức trang trọng gồm 2 nội dung: phần lễ có lễ rước nước sông
Hoàng Long, lễ dâng hương, lễ tế cổ truyền tại đền Đinh, đền Lê và nhà bia
11
tưởng niệm vua Lý Thái Tổ. Phần hội có hội trại truyền thống Hoa Lư, thi
mâm ngũ quả, thi thư pháp, biểu diễn văn nghệ, đấu vật, đấu bóng chuyền,
đấu cờ tướng, chọi gà, bắn cung, bắn nỏ, thi người đẹp văn hoá Hoa Lư, thi
giọng hát chèo hay Ninh Bình, múa rồng, thả rồng vàng, biểu diễn tích cờ
lau tập trận, biểu diễn võ thuật, múa rối nước... Lễ hội đã thu hút hàng vạn
lượt người trảy hội tưởng niệm tiền nhân, tham quan du lịch.
Lễ hội Báo Bản ở làng Nộn Khê xã Yên Từ, (Yên Mô) diễn ra ngày 14
tháng Giêng hàng năm mang đậm nét văn hoá truyền thống tâm linh. Trong
lễ hội này, con cháu tụ hội tế lễ Thành Hoàng báo công với tiền nhân-
Những người xưa kia đã có công khai phá đất đai, xây dựng xóm làng.
Trong văn tế có đoạn viết "Bí bồng phạt dịch, hữu khai tất tiền, quyết cư
vĩnh diện, công đức bất bất thiên" (Cắt cỏ phạt gai, đầu tiên lập nên cơ sở
chắc chắn, lâu dài, công đức ấy không bao giờ mất).
Hàng năm còn có lễ hội Đền Dâu, lễ hội Đền Thái Vi và một số lễ hội
khác có ảnh hưởng sâu sắc trong khu vực. Mùa xuân ở Ninh Bình còn có
nhiều hội làng mang đậm tinh thần truyền thống uống nước nhớ nguồn, cầu
may đầu xuân gắn liền với nhiều hoạt động văn hoá thể thao.
1.2.4 Đặc sản
Nhất hưởng thiên kim (cơm cháy)
Cơm cháy không có nghĩa là cháy cơm ở đáy nồi. Thực ra cơm cháy là
một đặc sản của Ninh Bình mà hầu như du khách nào đến Ninh Bình cũng
thử một lần cho biết, để rồi không bao giờ quên. Cơm cháy được làm từ
cơm, thịt bò sào hoặc tim, cật lợn sào và rau sào là không thể thiếu như hành
tây, nấm rơm, cà rốt và cà chua. Sau khi cơm được nấu kỹ, cơm được dàn
mỏng ra thành hình tròn, để cho nguội và khô. Khi các miếng cơm khô đi thì
bỏ chúng vào chảo dầu rán cho đến khi cơm cháy ròn, thơm và kêu xèo xèo.
Đồng thời thịt bò thăn thái lát đem ướp gia vị và đem sào đều với các loại
rau, sau đó đổ lên cơm cháy đã được rán ròn. Thế là quý khách có một món
ăn tuyệt vời với đầy đủ hương vị sông, núi Ninh Bình.
Rượu cần Nho Quan
Rượu cần là loại rượu không qua chưng cất lửa. Người ta dùng gạo nếp
xay (gạo nứt) nấu thành cơm trộn đều với men đem ủ vào trong ang hoặc vỏ
sành từ 3 tháng trở lên mới được uống. Khi sắp uống, đem đổ nước vào ang.
Nước đầu bao giờ cũng ngon và ngọt, đổ nước tiếp, rượu sẽ nhạt dần. Uống
rượu cần không dùng chén, mà phải có các cần rượu làm bằng thân các cây
trúc được thông rỗng bên trong cắm vào ang rượu. Rượu cần ngon hay
không là do men làm có chất lượng không. Men rượu phải là vỏ cây mun
12
cùng với củ giềng, củ gừng, lá ổi xanh theo tỷ lệ nhất định, đem giã vắt lấy
nước rồi trộn với bột gạo nếp. Sau đó nặn thành bánh tròn bằng quả ổi nhỏ ủ
vào trấu cho phồng lên, để khô khoảng 10 ngày mới dùng được.
Rượu Lai Thành
Lai Thành là miền quê nằm ở cực Nam huyện Kim Sơn, có nhiều đặc
sản như gạo tám xoan, dự hương, nếp mùa, nếp hoa cau, chiếu cải.... Nhưng
nổi tiếng hơn cả vẫn là thứ rượu được chưng cất từ gạo trồng trên chính đất
này. Hạt gạo tròn, thơm, vỡ ra trắng như mầu sữa, thoang thoảng một vị
hương dịu ngọt.... Mỗi năm, người Lai Thành đều giành một phần quỹ đất để
trồng thứ lúa nếp truyền thống đó. Lúa nếp gặt về, phơi khô, sàng sẩy thật kỹ
đưa vào chum bảo quản để nấu rượu. Ở đây đã có nhiều gia đình hàng chục
đời theo nghề nấu rượu, có vài tộc họ chuyên làm men rượu và họ có những
bí quyết riêng, nên men của họ dù có để hàng năm vẫn thơm và khô. Để có
một loại men quý họ còn dùng cả một vài thứ dược liệu có tác dụng lưu
thông khí huyết, diệt khuẩn, nên rượu Lai Thành, khi nấu ra càng để lâu
rượu uống càng ngon, càng chắc.
Nem Yên Mạc (Yên Mô)
Nem chua Yên Mạc có từ lâu lắm rồi, nhưng hiện nay ở Yên Mạc số
người làm được loại nem đặc biệt này không nhiều, bởi ngoài bí quyết nhà
nghề đòi hỏi phải có niềm đam mê, yêu nghề. Quy trình chế biến phải tuân
thủ nghiêm ngặt: nem làm ra bảo đảm phải sạch, thơm ngon, mầu sắc tươi,
sợi thái phải đều, để hàng tuần vẫn dùng được và không bị biến chất.
Nem Yên Mạc sau thời gian ủ men là ăn được ngay, để từ 5 đến 7 ngày
mở ra sắc vẫn hồng, hương vị thơm và ngọt. Dù ăn ngay hay để lâu, khi gỡ
nem ra vẫn rời, tơi cho lên đĩa gắp từng dúm nhỏ, lấy lá ổi tầu, lá sung, cùng
rau thơm cuộn lại, chấm với nước mắm chanh, tỏi giã nhỏ thêm ớt hoặc hạt
tiêu người ăn sẽ cảm nhận đủ vị ngọt, cay, thơm lan toả khắp cơ thể.
Tái dê Hoa Lư
Nhiều địa phương khác cũng có món Tái Dê nhưng món Tái Dê ở vùng
cố đô Hoa Lư có hương vị riêng, không chỉ vì nó là đặc sản của vùng cố đô
mà nó hấp dẫn bởi không gian, vị trí đến cách làm thịt dê, chế biến món ăn,
gia vị...
Người ta bắt dê được chăn thả trên những dải núi đá vôi quanh co uốn
lượn của vùng cố đô Hoa Lư đem về làm lông, thui vàng, mổ ra ướp với lá
hương nhu hoặc lá cúc tần hơn chục phút, rồi lọc lấy thịt (để cả da) đem
nhúng vào nước sôi cho tái, sau đó thái nhỏ, mỏng đều (thái ngang xớ) Lấy
vừng đã giã dập cùng các gia vị: xả, lá chanh, gừng ớt tỏi thái nhỏ, nước
13
chanh, bột ngọt cho vào thịt dê tái đã thái tất cả chộn đều thành tái dê. Ăn tái
dê nhất thiết phải có tương bần, và kèm theo lá sung, quả chuối xanh, khế, lá
mơ…
Tái dê là một món ăn có hương vị phong phú hấp dẫn bởi nó thơm ngon,
chua ngọt, chát bùi, tươi mát, nhẹ nhàng thú vị. Tất cả quyện thành một hư-
ơng vị riêng không giống món ăn nào khác. Du khách về đây thưởng thức
đặc sản tái dê dù chỉ một lần cũng đủ để lại ấn tượng tốt đẹp khó quên.
1.3 Con người
Ngoài đức tính cần cù chịu khó, Ninh Bình còn là mảnh đất sản sinh ra
nhiều nhân tài cho đất nước. Những danh nhân nổi tiếng nhất Ninh Bình có
thể kể đến vua Đinh Tiên Hoàng, thái hậu Dương Vân Nga, thái phó Trương
Hán Siêu, công chúa Phất Kim,…
- Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) sinh ngày Rằm tháng Hai,năm
Giáp Thân (924) ở thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là thôn
Vân Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) Thân phụ là
Đinh Công Trứ, làm quan Thứ sử Hoan Châu (Nghệ An) thời Dương Đình
Nghệ (930 – 937) đến thời Ngô Vương Quyền (939 – 944).
Khoảng đầu những năm Sáu mươi của thế kỷ X, lúc bấy giờ trong nước
loạn lạc, sử gọi là loạn Thập nhị sứ quân. Nhờ thông minh, có khí phách, lại
có tài thao lược, Đinh Bộ Lĩnh, chính thức dựng cờ dấy nghĩa, mong lập
nghiệp lớn, dân quanh vùng theo về rất đông. Biết lực lượng của mình còn
mỏng, Đinh Bộ Lĩnh sang xin theo sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công) ở
Bố Hải Khẩu.
Thấy mình tuổi đã cao, sức yếu, Trần Lãm giao toàn bộ binh quyền cho
Đinh Bộ Lĩnh. Bố Hải Khẩu là vùng duyên hải, đất rộng, người đông, nhưng
không có thế hiểm yếu để dụng binh, Đinh Bộ Lĩnh quyết định đưa toàn
quân ở về hội nhập với quân động Hoa Lư, chiếm giữ một vùng Hoa Lư
hiểm yếu, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương.
Cuối năm 967 Đinh Bộ Lĩnh thừa cơ phát đại binh đánh lớn, chỉ trong
khoảng hơn một năm, dẹp yên các sứ quân, bốn phương ca khúc khải hoàn,
non sông thu về một mối, chấm dứt thời kỳ loạn mười hai sứ quân kéo dài
hơn hai mươi năm trời.
Năm Mậu Thìn (968)Vạn Thắng Vương lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Đại
Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt to lớn),
đóng đô ở Hoa Lư, dựng cung điện, đặt triều nghi, “định trăm quan, đặt sáu
14
quân, chế độ gần đủ”(toàn thư). Nước Nam ta được chính thống kể từ đây.
Năm 969,vua Đinh phong cho con trưởng Đinh Khuông Liễn là Nam Việt
Vương.
Vào đêm Trung Thu năm Kỷ Mão (979), tức đêm 9-9-979 vua Đinh và con
trưởng là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị tên hậu cận, chức Chi hậu nội nhân
là Đỗ Thích sát hại
Đại thắng Minh Hoàng đế mất, được triều thần tôn là Tiên Hoàng đế,
linh cữu táng ở Sơn Lăng – Núi Mã Yên ở Trường Yên, Hoa Lư
Đại Thắng Minh Hoàng đế ở ngôi 12 năm (968-979), Thọ 56 tuổi. Đền thờ
ông được dựng dưới chân núi Mã Yên ở Trường Yên, Hoa Lư, ngay trên nền
cung điện cũ.
- Thái Hậu Dương Vân Nga(?-1000)
Thái hậu Dương Vân Nga
Dương Vân Nga, sử cũ chép là Dương Hậu (Hoàng hậu họ Dương)
Theo truyền ngôn, thân phụ bà là Dương Thế Hiển, quê ở thôn Nga My, xã
Gia Thuỷ (huyện nho Quan) quê mẹ ở thôn Vân lung, xã Gia Vân ( huyện
gia Viễn) tỉnh Ninh Bình, sinh thời, cha mẹ chỉ gọi bà là Dương Nương ( cô
gái họ Dương), sau khi vào cung Hoa Lư, được gọi ghép tên làng cha với tên
làng mẹ thành Vân – Nga. Nhân dân địa phương gọi là Dương Vân Nga.
Đêm rằm Trung Thu năm 979, Đại Thắng Minh hoàng đế và Nam Việt
Vương Đinh Liễn bị Nội nhân Đỗ Thích giết hại. Triều thần tôn Vệ Vương
Đinh Toàn lên ngôi Hoàng đế, tôn Dương Vân Nga làm Hoàng Thái Hậu .
Đinh Toàn lúc này mới lên 6 tuổi. Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn được
Dương Thái hậu chọn làm Nhiếp chính, sau lại tự xưng là Phó Vương. Định
Quốc Công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền và Tướng quân Phạm Hạp
ngờ Lê Hoàn chiếm ngôi nhà Đinh. Biết Kinh thành Hoa Lư có biến, phò mã
Ngô Nhật Khánh dẫn hơn một nghìn chiến thuyền quân Chiêm Thành tiến
đánh nước ta. ở biên giới phía Bắc. giặc Tống lợi dụng tình hình đại Cồ Việt
rối ren, đang chuẩn bị cất binh xâm lược nước ta.
Thái Hậu Dương Vân Nga sai Lê Hoàn chọn tướng sĩ để chống cự, lại
cử Phạm Cự Lượng làm Đại tướng tiên Phong.
Hành động này của Dương thái Hậu bị các đại thần trung thành với nhà
Đinh chống lại quyết liệt. Các nhà nho phong kiến và dư luận, kể cả sau này
hết sức chỉ trích. Song, trong tình thế đất nước lúc đó hết sức cấp bách bởi
nguy cơ xâm lược của nhà Tống đã hiện ra trước mắt, Dương Thái Hậu đã
có cái nhìn vô cùng sáng suốt, đặt lợi ích dân tộc và quốc gia lên trên lợi ích
15
dòng tộc, chọn Lê Hoàn là một thống soái quân đội, dày dạn kinh nghiệm
chiến đấu, có khả năng tập hợp và tài năng chỉ huy quân dân ta lúc đó đương
đầu với quân xâm lược, loại bỏ được nguy cơ mất nước.
Năm Nhâm Ngọ (982), Lê đại Hành lập Dương Vân Nga là Đại Thắng
Minh Hoàng hậu, là một trong năm hoàng hậu của vua Lê.
Năm Canh Tý (1000), Hoàng hậu Dương Vân Nga qua đời.
Hiện nay, đền thờ Lê Hoàn ở Trường Yên (Hoa Lư), đền vua Đinh, vua
Lê ở Trung Trữ (Ninh Giang, Hoa Lư) và đền làng Bách Cốc (xã Thành Lợi,
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) đều có tượng Dương Vân Nga. Tượng bà ở
đền Lê Đại Hành( trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình) gọi là Bảo Quang Hoàng
Thái Hậu.
-Thái Phó Trương Hán Siêu (? – 1354)
Trương Hán Siêu người làng Phúc Thành, thành phố Ninh Bình. Ông tự
là Tăng Phủ, hiệu là Đôn Tẩu khi mất được truy tặng đến chức thái phó nên
người ta thường gọi là Trương Thái phó, hay còn gọi theo tên làng là Trương
Phúc Thành. Ông là nhân vật lỗi lạc thời nhà Trần.
Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi, đến năm 1308,
Trương Hán Siêu được vua Trần Anh Tông thăng chức Hàn lâm học sĩ.
Năm 1326, đời Trần Minh Tông, Ông được giao chức hành khiển. Đến
năm 1339, ông giữ chức Môn hạ hữu ty lang trung triều vua Trần Hiếu
Tông. Năm 1342, triều vua Trần Dụ Tông, ông bị gièm pha, đố kỵ, chuyển
dữ chức vụ Tả ty lang trung, kiêm lược sứ Lạng Giang ( vùng Lạng Sơn Bắc
Giang). Đến năm 1345, ông lại được sung chức Tả gián nhị đại phu, rồi
được thăng đến Tham tri chính sự vào năm 1351, một chức quan tương
đương với Thượng Thư. Tháng 9 – 1353, quân Chiêm Thành xâm lấn vùng
đất Hoá Châu (Thừa Thiên – Huế), quan quân sở tại đánh đuổi chúng không
được, triều đình cử ông đem quân thần sách đi chống giữ. Ông ở Hoá Châu
đến tháng 11 năm 1354, khoảng 14 tháng, biên thuỳ yên ổn, ông cáo bệnh
xin trở về, gần tới kinh thành thì mất. Vua Trần Dụ Tông truy tặng ông chức
Thái Bảo.
Ngoài những tác phẩm văn học, Trương Hán Siêu còn tham gia viết bộ
“Hình Thư” và “Hoàng triều đại điển” cùng với Nguyễn Trung Ngạn, là
những cuốn sách về luật pháp của trế độ nhà Trần.
Trương Hán Siêu tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, đã trở thành
nhà văn hàng đầu của thời Trần, một nhà văn hoá lớn tầm vóc đất nước.
16
1.4 An ninh, giáo dục và các dịch vụ bảo vệ con người
Giáo dục – đào tạo
Ninh Bình là 1 trong những tỉnh ở tốp dẫn đầu về Giáo dục- Đào tạo
trong cả nước. Với chất lượng cao và nhiều thành tích tốt. Từ bậc mầm non,
đã được chú trọng đầu tư và phát triẻn. Ở các bậc cao hơn, có nhiều học sinh
được thành tích tốt, tham gia vào các đội tuyển học sinh giỏi quốc gia, đặc
biệt là tại các bộ môn Sinh học và Hoá học của lớp 12 thường đóng góp
được học sinh đi dự thi Olympic quốc tế.
Về cơ sở vật chất: 10 năm trước hầu hết là phòng học cấp 4, tỷ lệ phòng
học tranh tre, nứa lá còn cao, một số trường phải dạy 3 ca. Ngay ở Thị xã
Ninh Bình học sinh còn phải ngồi học trên ghế xi măng; chỉ có 18 trường
THPT được xây kiên cố và cao tầng. Đến 15/5/2003 toàn tỉnh có 305 trường
cao tầng, kiên cố, trong đó có 290 trường cao tầng với 2.888 phòng học cao
tầng; 144/144 xã, phường, thị trấn có trường cao tầng, nhiều xã, phường có
2-3 trường cao tầng. ở tất cả các ngành học, bậc học, cấp học không còn tình
trạng học 3 ca.
Toàn ngành có 332/332 trường có thư viện, trong đó có 261 thư viện
đạt chuẩn của Bộ Giáo dục- Đào tạo, 9 trường có phòng học tiếng với 280 ca
bin, 6 trường có phòng học vi tính với gần 600 máy vi tính, có 40 máy
Photocopy, 478 đàn ooc-gan.
Y tế
Trên lĩnh vực y tế dự phòng, ngành đã tập trung kiện toàn màng lưới
báo dịch, giám sát chặt chẽ ổ dịch cũ, vì vậy, 10 năm qua không có dịch lớn
xảy ra trên địa bàn. Các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cũng được
triển khai có hiệu quả, ý thức của người dân trong giữ gìn vệ sinh môi
trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh lao động đã dần được nâng lên.
Chương trình TCMR được duy trì tốt. Trên 98% trẻ em dưới 1 tuổi được
tiêm đầy đủ 6 loại vắc xin, tỷ lệ trẻ em mắc 6 bệnh truyền nhiễm giảm rõ rệt.
Năm 2000, Ninh Bình được Bộ Y tế công nhận thanh toán xong bệnh bại
liệt
Màng lưới phòng, chống HIV/ AIDS được củng cố từ tỉnh xuống cơ sở.
Chú trọng hoạt động giáo dục, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho
nhân dân, khống chế HIV/ AIDS.
Về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị. Ngành đã tranh thủ các
nguồn đầu tư từ ngân sách, từ các chương trình y tế quốc gia, quốc tế để
nâng cấp cơ sở khám, chữa bệnh. Đến nay, hầu hết các cơ sở y tế trong toàn
tỉnh đã có nhà cửa kiên cố, khang trang. Trên 90% trạm y tế có nhà mái
17
bằng. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng lên tới 50 tỉ đồng. Các trang thiết bị cơ
bản cũng tương đối đầy đủ, đáp ứng yêu cầu trước mắt của các tuyến y tế.
Về công tác đào tạo cán bộ, ngành đã chú trọng đào tạo theo hướng
chuyên khoa sâu, chuyên khoa đầu đàn cho tuyến tỉnh; đào tạo bác sĩ chuyên
khoa cho tuyến huyện; đào tạo bác sĩ, nữ hộ sinh trung học, y sĩ sản nhi cho
các trạm y tế xã. Đến nay ngành y tế Ninh Bình đã có 1 nghiên cứu sinh tiến
sĩ, 9 thạc sĩ, 157 bác sĩ chuyên khoa I, 6 bác sĩ chuyên khoa II. 49,7% trạm y
tế xã, phường, thị trấn có bác sỹ; 100% trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản
nhi. 100% thôn bản có nhân viên y tế. Phấn đấu đến năm 2010 Ninh Bình sẽ
có 100% trạm y tế có bác sĩ.
2. Thực trạng ngành du lịch Ninh Bình
Có thể nói, lĩnh vực du lịch - thương mại và công nghiệp là nguồn thu
chủ yếu của ngân sách địa phương, hằng năm chiếm tỷ trọng 70 - 80%
nguồn thu ngân sách tỉnh.
Ninh Bình là tỉnh nằm ở vùng Châu thổ sông Hồng, có tài nguyên du
lịch phong phú bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
nhân văn, địa hình của tỉnh mang đầy đủ hình thái của một Việt Nam thu
nhỏ. Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn đan quyện với nhau
hình thành nên hệ thống tài nguyên du lịch to lớn của Ninh Bình, có thể khai
thác một cách bền vững cho cả hiện tại và tương lai.
- Du lịch tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn người dân tại tỉnh,
nhất là tại các điểm đến mà ngoài thời vụ du lịch, người dân chỉ biết làm
nông nghiệp để kiếm sống. Hiện nay, nhiều di tích lịch sử hang động đang
được Ðảng bộ và nhân dân thường xuyên trùng tu. Số du khách ngày một
đông là điều kiện phát triển ngành du lịch và thương mại, kéo theo nguồn
thu ngân sách tăng khoảng 25 - 30%. Nhiều mô hình dịch vụ ra đời: nhà
nghỉ dưỡng, ăn uống, dịch vụ vận tải đường thủy, đường bộ, du lịch lữ hành,
v.v. Nhờ đó, số lao động tham gia ngành du lịch - thương mại tăng lên đáng
kể.
- là ngành có tiềm năng phát triển nhất trong tất cả các ngành hiện nay
tại Ninh Bình, đem lại doanh thu cao và kéo theo nhiều lợi ích lâu dài cho
phát triển các ngành khác.
Theo báo cáo kinh doanh, tháng 9-2007, ngành du lịch đem lại doanh thu cao:
STT Các chỉ Tháng Tháng So Sánh Cộng dồn 9 tháng
18
tiêu 9/2006 9/2007 (%) 2006 2007 So
sánh
I Lượt khách 94092 134100 142.52 896783 1119059 124.79
Quốc tế 30120 38500 127.82 288551 326420 113.12
Nội địa 63972 95600 149.44 608232 792639 130.32
II Tổng 6748 9675 143.38 59070 79633 134.81
doanh thu
(triệu đồng)
III Nộp ngân 732 910 124.32 6290 7762 123.40
sách (triệu
đồng)
- Có sẵn nhiều điều kiện và cơ sở để phát triển:
Sự kỳ thú của thiên nhiên với những danh lam thắng cảnh đẹp, đa
dạng như Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu hang động Tam Cốc – Bích
Động, khu Địch Lộng, Vân Long… cùng với tài nguyên nhân văn như Cố đô
Hoa Lư, quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Non Nước, phòng tuyến Tam
Điệp - Biện Sơn… tạo điều kiện cho Ninh Bình phát triển những tuyến du
lịch hấp dẫn, đưa tỉnh trở thành địa bàn du lịch quan trọng của vùng Bắc Bộ
và cả nước
Ngoài các điểm đến nổi tiếng là danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,
con người và đặc sản (phần trên), Ninh Bình còn đang xây dựng khu du lịch
tâm linh lớn nhất Đông Nam Á tại núi Bái Đính. Hơn nữa, thành phố Ninh
Bình được đầu tư xây dựng sân vận đông đạt tiêu chuẩn quốc gia phục vụ
cho Seagame và các giải đấu quốc tế, quốc gia, nhà thi đấu lớn và rất nhiều
đấu trường thể thao. Đóng góp nhiều nhân tài cho các đội tuyển quốc gia về
bóng bàn, cầu lông, bóng chuyền và bắn súng. Đây thực sự là các điều kiện
hiếm có để thu hút khách du lịch đến Ninh Bình.
- Đang được các cấp chính quyền quan tâm và tạo điều kiện trong các
chính sách ưu đãi. Ngoài ra, còn được hỗ trợ bởi các ngành khác, có sẵn các
điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất cho phát triển. Nhất là trong các lĩnh vực
xây dựng, giao thông, y tế, an ninh xã hội,…
19
3.Chiến lược phát triển ngành du lịch của các cấp chính quyền Ninh
Bình.
Một số chích sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư
phát triển các khu du lịch như:
Ưu đãi về giá thuê đất và miễn, giảm tiền thuê đất.
Ngoài các quy định của Nhà nước, các Nhà đầu tư có vốn đầu tư vào
các Khu Công nghiệp, Khu Du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình được thuê
đất với mức giá thấp nhất trong khung giá các loại đất ban hành kèm theo
Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ, tại địa bàn có dự án đầu
tư; được miễn tiền thuê đất trong 10 năm và giảm 50% số tiền thuê đất cho
10 năm tiếp theo. Không thu tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng nhà
ở cho công nhân, đất trồng cây xanh, phục vụ phúc lợi công cộng...
Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngoài các quy định của Nhà nước, các Nhà đầu tư vào các Khu Công
nghiệp, Khu Du lịch được cấp lại 100% số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp
02 năm và 50% số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho năm thứ ba kể từ khi
Nhà đầu tư phải nộp thuế theo luật định.
Ưu đãi về vốn đầu tư.
1. Thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư của tỉnh để thực hiện các ưu đãi khuyến
khích đầu tư tại quy định này của UBND tỉnh.
2. Các dự án đầu tư vào các Khu Công nghiệp, Khu Du lịch được ưu
tiên bố trí vốn tín dụng ưu đãi theo kế hoạch Nhà nước hàng năm (nếu có
nhu cầu vốn đầu tư), hoặc cấp Giấy phép ưu đãi đầu tư để hỗ trợ lãi suất sau
đầu tư theo kế hoạch đầu tư hàng năm của địa phương.
Ưu đãi lãi suất vốn vay, lãi suất cho thuê tài chính và phí cung cấp
các dịch vụ của Ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
1. Ưu đãi lãi suất vay vốn và lãi suất cho thuê tài chính: Các dự án đầu
tư vào các Khu công nghiệp, Khu du lịch được các Ngân hàng thương mại
quốc doanh trên địa bàn tỉnh cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và cho
thuê tài chính với lãi suất giảm từ 5% đến 10% so với lãi suất cho vay vốn
và lãi suất cho thuê tài chính đối với khách hàng bình thường.
2. Ưu đãi phí cung cấp các dịch vụ ngân hàng: Các Ngân hàng thương
mại quốc doanh trên địa bàn tỉnh thu phí thanh toán qua ngân hàng và các
dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp với mức thấp nhất trong khung phí hiện
hành do ngân hàng cấp trên quy định; miễn thu phí dịch vụ tư vấn vay vốn
20