Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ đến nền kinh tế

  • 20 trang
  • file .doc
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ NGOẠI TỆ ĐẾN NỀN KINH TẾ
A/ TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1/ Khái niệm tỷ giá hối đoái
Về hình thức : là giá đơn vị tiền tệ của một nước, được biểu hiện bằng các
đơn vị tiền tệ nước ngoài; là hệ số quy đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác,
được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Vd: TGHĐ giữa Đồng
Việt Nam và Dollar Mỹ là 19100VND/USD.
Về nội dung : TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi
hành hóa, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ…giữa các quốc gia.
Có nhiều loại tỷ giá khác nhau:
 TGHĐ thực và TGHĐ danh nghĩa
 TGHĐ chính thức và TGHĐ song song
 TGHĐ song phương và TGHĐ hiệu lực
2/ Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp :
2.1 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại.
Cán cân thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cấn cân thương mại của
một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Một
nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục
công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá
dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng,
làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập
khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường.
Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện
tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái
1
cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân
tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung
ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm
hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
2.2 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với lạm phát.
Lạm phát ảnh hưỏng đến tỷ giá hối đoái. Khi một nước có lạm phát, sức mua
đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt
hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên
thị trường trong nứơc . Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang
dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn lúc này các doanh nghiệp trong nước chịu
cảnh ế ẩm doanh thu sụt giảm , nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái
tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt
động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng.
Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá
ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng
tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài
sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong
trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào
tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn,
đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.
2.3 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với đầu tư quốc tế.
Đầu tư ra nước ngoài, có ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái cư dân trong nước
dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy,
thành lập các doang nghiệp...) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu...).
Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên cần phải có ngoại
tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá
2
hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại
tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra
nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một
nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ
hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm
trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu
hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất.
Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi
trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn
lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông
thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ.
B. CƠ CHẾ QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1/ Cơ chế cố định tỷ giá( Fix Exchange Rate)
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên bố
sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng tiền
nào đó ở một mức độ nhất định. Ở đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng dư cầu
hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua
vào số dư đó.
Trong lịch sử, tỷ giá cố định nổi tiếng là tỷ giá giữa dollar Mỹ và các đồng
tiền khác theo Hiệp ước tiền tệ Bretton Woods – được áp dụng từ năm 1947 đến
1967. Lúc bấy giờ người ta căn cứ vào hàm lượng vàng của USD ( lúc đó là
0,888671 g vàng) và hàm lượng của các đồng tiền khác của các nước tham gia Hiệp
ước, chẳng hạn hàm lượng vàng của FRF là 0,2483 g vàng vậy tỷ giá giữa
USD/FRF sẽ là 0.88761/0.2483 = 3,5700 và tỷ giá này hai nước coa trách nhiệm
giữ nó không được biến động quá +/- 1,0%.
3
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lai một môi trường ổn
định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi chính sách vĩ mô.
+Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về mục
tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá.
- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốt từ bên ngoài hoặc từ thị
trường hàng hóa trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá lớn về giá trị
giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng tỷ giá.
+ Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ, khiến
cho NHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng.
+ Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng “ nhập khẩu lạm
phát” không mong muốn.
Tỷ giá cố định cũng được áp dụng ở Việt Nam trong một thời gian khá dài kể
cả trong thời kỳ bao cấp ( trước 1986) và cả mấy năm trong thời kỳ đổi mới. Đến
năm 1998 mới chuyển sang cơ chế thả nổi có quản lý.
2/ Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do.
Cơ sở cơ bản được sử dụng làm căn cứ xác định tỷ giá hối đoái thả nổi là
quan hệ cân bằng cung cầu ngoại tệ tr ên thị trường ngoại hối. Nó cũng chính là lý
lẽ căn bản của các nhà kinh tế tán thành sự phát triển kinh tế dựa vào cơ chế cạnh
tranh tự do. Chế độ tỷ giá này cho phép xác định một tỷ giá danh nghĩa gần với
sức mua thực tế của đồng tiền các nước. Nó phản ánh tương đối xác thực những
biến đổi kinh tế c ủa mỗi nước và sự thay đổi trong tương quan kinh tế giữa các
nước với nhau. Chính sách tỷ giá này cũng là cơ sở để thực hiện mong muốn của
những n ước có khả năng theo đuổi chính sách tài chính – tiền tệ độc lập, tách rời
4
khỏi sự ràng buộc một cách chặt chẽ với đồng USD trong chế độ tỷ giá hối đoái
Bretton Woods. Nh ưng khi phản ánh được sự thay đổi trong sức mua thực tế của
các đồng tiền, có khả năng thích ứng với các biến động lớn của nền kinh tế và tạo
khả năng thực thi chính sách tiền tệ chủ động của các chính phủ thì tỷ giá hối
đoái thả nổi lại gây ra những biến động tỷ giá hết sức thất thường, làm cho
sự lên giá – xuống giá của các đồng tiền không sao dự đoán được (làm tăng tính rủi
ro của tỷ giá hối đoái). Điều n ày làm tăng thêm những yếu tố gây mất ổn định của
các nền kinh tế, cản trở khả năng kiểm soát quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế của các chính phủ.
Trong chế độ tỷ giá thả nổi tự do, chính phủ giữ thái độ thụ động, để cho
thị trường quyết định giá trị đồng tiền nước mình. Thực tế, ít có nước nào thả nổi tự
do mà trái lại, Chính phủ thường can thiệp bằng những công cụ tài chính – tiền tệ
(lãi suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở), điều chỉnh dự trữ ngoại tệ,
chính sách kinh tế, kể cả các giải pháp hành chính (mua ngoại tệ phải làm đơn
xin mua ngoại tệ,chính sách kết hối ngoại tệ...).
Vậy trên thực tế, không tồn tại một chế độ tỷ giá ho àn toàn thả nổi mà
thường chỉ tồn tại chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa “cố định” và “thả nổi”.
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi:
+ Giúp cán cân thanh toán cân bằng: Giả sử một nước nào đó có cán cân
vãng lai thâm hụt khiến nội tệ giảm giá. Điều đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập
khẩu cho đến khi cán cân thanh toán trở nên cân bằng.
+ Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ.
+ Góp phần ổn định kinh tế, tránh được những cú sốc bất lợi từ bên ngoài, vì
khi giá cả nước ngoài tăng sẽ làm cho tỷ giá tự điều chỉnh theo cơ chế PPP để ngăn
ngừa các tác động ngoại lai.
5
- Nhược điểm:
+ Là nguyên nhân gây nên sự bất ổn do các hoạt động đầu cơ làm méo mó,
sai lệch thị trường, có khả năng gây nên lạm phát cao và tăng nợ nước ngoài.
+ Hạn chế các hoạt động đầu tư và tín dụng do tâm lý lo sợ sự biến động
theo hướng bất lợi của tỷ giá.
3/ Chế độ tỷ giá hối thả nổi có quản lý
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định và thả
nổi. ở đó,tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường, chính phủ chỉ
can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá mức độ cho phép.
Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và
sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá chính
thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho phù hợp với
từng thời kỳ.
- Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỷ
giá mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay "cố định bò trườn" có nhiều tính ưu
việt hơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tuy
nhiên, câu hỏi đặt ra là "thả nổi" hay "bò trườn" ở mức độ bao nhiêu nên gần với
thả nổi hay gần với cố định hơn? biên độ dao động là bao nhiêu? Rất khó để đưa ra
một câu trả lời chung cho mọi quốc gia mà phải tuỳ thuộc vào điều kiện thực tiễn
và mục tiêu của từng quốc gia theo đuổi. Nhìn chung, đối với các nước kinh tế
đang phát triển trong đó có Việt Nam, với một hệ thống công cụ tài chính còn
nhiều yếu kém, sự phối hợp giữa các chính sách còn thiếu đồng bộ, đồng tiền yếu
và dự trữ ngoại tệ còn hạn hẹp thì tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý tỏ ra là một
chính sách hợp lý nhất.
6
4/ Cơ chế tỷ giá linh hoạt:
Đây là cơ chế có sự pha trộn giữa cố định, thả nổi và quản lý - nghĩa là tùy
từng điều kiện cụ thể mà chủ động điều chỉnh tỷ giá một cách linh hoạt.
C. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:
1/Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển TGHĐ
ở nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường truyền thống
Đông Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán
với khu vực thanh toán bằng dola Mỹ. trong giai đoạn này nền kinh tế chịu tác
động của chính sách thả nổi tỷ giá. Tỷ giá hối đoái VND/USD biến động mạnh theo
xu hướng giá trị đồng dola Mỹ tăng liên tục kèm theo các cơn “sốt”, các đột biến
với biên độ rất lớn ( Từ cuối năm 1990 trở đi ). Tình trạng leo thang của giá đồng
dola đã kích thích tâm lý nắm giữ đồng dola, nhằm đầu cơ ăn chênh lệch giá. Dẫn
đến Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại trở nên khan hiếm hơn. Trong giai đoạn này
Ngân hàng không kiểm soát được lưu thông tiền tệ , mọi cố gắng quản lý ngoại tệ
của chính phủ ít đem lại hiệu quả.
Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ vỡ các mối quan hệ ngoại
thương với LiênXô và Đông Âu , nhập khẩu giảm sút một cách nghiêm trọng (năm
1991 là 357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1 triệu USD). Các doanh nghiệp
tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả chậm và phải chịu một lãi suất cao do thiếu
dola, dola đã thiếu lại càng thiếu dẫn đến các cơn sốt dola theo chu kỳ vào giai
đoạn này.
Đến đầu năm 1992 Chính phủ đã có một số cải cách trong việc điều chỉnh tỷ
giá ( như buộc các doanh nghiệp có dola phải gửi vào ngân hàng, bãi bỏ hình thức
quy địng tỷ giá theo nhóm hàng..) làm cho giá dola bắt đầu giảm ( cuối năm 1991
7
tỷ giá VND/USD có lúc lên tới 14500 đến tháng 3/1992chỉ còn 11550 VND/USD
và tiếp tục giảm cho đến cuối năm 1992.
2/ Giai đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam Á (tháng 7 năm 1997).
Trước những tồn tại của việc”thả nổi” mất kiểm soát tỷ giá, chính phủ đã
thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể sau:
- Quy định biên độ dao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức được công bố
bởi Ngân hàng nhà nước (công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác định rõ biên
độ giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính mà cụ thể là
buộc các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ phải
bán cho Ngân hàng theo tỷ giá nhất định.
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán
ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại
thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước
công bố.
Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin,cho công khai hóa một cách
nhanh chóng và chính xác chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị
trường, chỉ số giá, sự biến động giá vàng…Nhờ vậy hạn chế được hoạt động đầu
cơ, giải tâm lý hoang mang…Chính phủ cũng chú trọng tăng cường thực lực kinh
tế cho hoạt động can thiệp vào tủ giá bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại
tệ,lập quỹ bình ổn giá.
- Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ ( trung tâm giao dịch
ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh được mở cửa từ tháng 8 năm 1991 ) để cho các
đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi, mua bán ngoại tệ với nhau theo giá
tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu thực sự gặp nhau. Sau đó,
tiến dần tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tháng 9 năm 1994.
8
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện pháp can thiệp đã đem
lại một kết quả như mong đợi, nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải toả,
những đồng ngoại tệ đã được hướng mạnh và hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu. Tình hình cung - cầu ngoại tệ đã được cải thiện với cùng kỳ trong những năm
trước đó, Dola có xu hướng giảm giá. Mức tỷ giá trên thị trường chợ đen chỉ giao
động trong phạm vi từ 10200 đến 10400 đồng Việt Nam ăn 1 Đôla Mỹ. Thậm chí
có lúc tỷ giá tụt xuống ở mức USD = 9750 VND.
Mức tỷ giá trên thị trường chính thức cũng không có sự chênh lệnh nhiều so
với tỷ giá trên thị trường chợ đen, là minh chứng cho thấy, mặc dù có sự can thiệp
mạnh trở lại của nhà nước, nhưng tỷ giá vấn được xác định tương đối phù hợp với
quy luật của thị trường.
Nói chung tình hính cung cầu ngoại tệ và TGHĐ luôn được ổn định trong
suốt thời gian dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.
3/Giai đoạn từ tháng 7 /1997 đến ngày 26/2/1999
Ngày 2/7/1997 Thái lan phải "thả nổi" TGHĐ kết thúc gần 14 năm duy trì
một chế độ cố định và cũng là ngày đánh dấu làm nổ ra cuộc khủng hoảng tài
chính Đông nam á với một ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới. Việt
Nam cũng không thể tránh khỏi cuộc khủng hoảng. Xét trên góc độ vĩ mô, sự tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông nam á đối với nền kinh tế Việt Nam tạo
nên một cơn sốc rộng khắp trên các mặt của nền kinh tế chẳng hạn như:
Thứ nhất, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng
- Tạo sức ép giảm giá đồng Việt Nam trên thị trường ngoại tệ
- Tác động xấu đến hoạt động giai dịch ngoại tệ
- Tăng gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp
- Gây sức ép đối với lãi suất đồng tiền Việt Nam và đe doạ sự mất ổn định
của hệ thống Ngân hàng.
9
-Tác động đến xuất khẩu: tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch, riêng các nước
ASIAN chiếm 23% tổng kim ngạch trước khi sảy ra cuộc khủng hoảng nên cuộc
khủng hoảng tất yếu sẽ làm giảm xuất khẩu của Việt Nam.
- Tác động đến nhập khẩu: Sự mất giá của đồng tiền trong khu vực đã kích
thích gia tăng nhập khẩu, trước hết là nhập khẩu tiểu ngạch từ Thái lan và hàng
trung chuyển từ Campuchia, Lào và Việt Nam.
Thứ hai, đối với lĩnh vực đầu tư:
Do tỷ giá tăng, lãi suất tăng, thị trường hàng hoá diễn biến phức tạp cùng với
dự đoán không tốt trong tương lai tất yếu sẽ là các doanh nghiệp hạn chế đầu tư và
Ngân hàng cũng rất dè dặt khi cho vay. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có xu
hướng giảm ngay từ trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng, sau khi cuộc khủng hoảng,
nhiều dự án đầu tư dở dang bị đình lại, nhiều phương án đầu tư mới tạm hoãn và
điều này cũng thật rễ hiểu khi mà các quốc gia bị khủng hoảng nặng nề lại là những
quốc gia đang dẫn đầu danh sách những quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam.
Thứ ba, đối với thu chi ngân sách nhà nước.
Gánh nặng nợ nần và chi phí nguyên liệu tăng lên cùng với sụt giảm của thị
trường tiêu dùng lẫn thị trường xuất khẩu đã làm nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ từ
đó sẽ ảnh hưởng xấu đến nguồn thu ngân sách. Bên cạnh đó, sự xa sụt của nền kinh
tế tất yếu đòi hỏi phải ra tăng một số khoản chi. Báo cáo của Ngân hàng nhà nước
về hoạt động tiền tệ, tín dụng Ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 1998 đã chỉ rõ "
Thu ngân sách 6 tháng thực hiện đạt 30% so với kế hoạch năm. Chi ngân sách khó
khăn hơn mức bội thu bội chi có xu hướng gia tăng".
Thứ tư , Tăng trưởng kinh tế dự trữ quốc gia và nợ nước ngoài.
Khủng hoảng khu vực đã gián tiếp ảnh hưởng đến cán cân vãng lai, đến đầu
tư của nước ngoài.Từ đó, gây ra khó khăn cho sự phát triển kinh tế nói chung (tốc
độ tăng trưởng 5,8% trong năm 1998 là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm
1989). Nề kinh tế khó khăn sẽ tác động suy giảm đến tổng cầu, giảm thu nhập và
10
tiêu dùng của cư dân. thị trường suy yếu một phần sẽ tác động ngay lập tức đến các
Ngân hàng thương mại. Dự trữ quốc gia tất yếu sẽ phải chịu sức ép suy giảm một
phần do nguồn cung ngoại tệ giảm bớt, một phần do đáp ứng nhu cầu ngoại tệ thiết
yêú cho nền kinh tế và hỗ trợ cho đồng Việt Nam vào những lúc cao điểm.
Trong bối cảnh đó chính sách TGHĐ nước ta đã có nhiều thay đổi nhằm hạn
chế những tác động của cuộc khủng hoảng với các mốc chính như sau:
Ngày 13/10/1997 thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định mở rộng biên
độ giao dịch nên mức 10%. Ngày 16/2/1998 Ngân hàng nhà nước quyết định nâng
tỷ giá chính thức từ 1USD = 11175VND lên mức 1USD = 11800VND, tăng 5,6%,
ngày 7/8/1998, Ngân hàng nhà nước quyết định thu hẹp biên độ giao dịch xuống
còn 7% đồng thời nâng tỷ giá chính thức lên 1USD = 12998 là 1USD = 12992
VND, ngày 6/11/1998 là 1USD = 12989VND,ngày 26/11/98 là1USD =
12987VND… cho đến ngày 15/1/1999 thì tỷ giá chính thức chỉ còn ở mức 1USD =
12980VND.
4/giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực đến trước khi Việt
Nam gia nhập WTO (1999-2006)
Trong giai đoạn này, kết quả tích cực do việc điều chỉnh tỷ giá mang lại là nó
đã hạn chế được phần nào nhập khẩu và giảm nhập siêu một cách rõ rệt. Nhưng
đồng thời,việc điều chỉnh tỷ giá đã làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài. Tính đến
tháng 10/1998,so với mức nợ nước ngoài 22 tỷ USD, sự thay đổi của tỷ giá hối
đoái đã làm cho nó tăng thêm 42,86 triệu USD, cộng với 17,86 triệu USD tiền lãi,
tổng cộng là 60,72 triệu USD đã gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp có
vốn vay nước ngoài, thậm chí đẩy thêm nhiều doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ.
Đây chính là cái giá phải trả khi duy trì lựa chọn chính sách tỷ giá thiên về cố định
bằng cách duy trì ổn định tỷ giá quá lâu. Và một khi thời gian duy trì cố định càng
dài thì sự đánh đổi càng lớn cho các nhà hoạch định chính sách.
11
Do bị tác động bởi khủng khoảng tài chính của khu vực Đông Á, khi đó Việt
Nam buộc phải phá giá VND để hạn chế những tác động tiêu cực của cuộc khủng
hoảng đến nền kinh tế Việt Nam. Đồng thời, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lãi
suất VND có xu hướng giảm, cộng thêm lãi suất trên thị trường quốc tế có xu
hướng tăng nên xảy ra hiện tượng chuyển dịch từ VND sang USD, tỷ lệ tiền gửi
USD / tổng tiền gửi tăng từ mức 33% năm 1997 lên mức 36,6% năm 2000 và 41%
năm 2001. Ngược lại thì các khoản vay bằng ngoại tệ/ trên tổng dư nợ lại có xu
hướng giảm từ mức năm 1997: 31,3%, năm 1998: 25,4, năm 1999: 16,1%, năm
2000: 20,6%, năm 2001: 21%.Điều này, có thể sẽ gây mất cân đối nguồn vốn và
với sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại, gây mất an toàn hoạt động của các
NHTM. Kể từ ngày 26/02/1999, ngân hàng nhà nước chấm dứt tỷ giá chính thức
và giảm biên độ giao động tỷ giá xuống còn 0,1%. Từ đó, tỷ giá được ngân hàng
nhà nước công bố theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng
của đồng Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Biện pháp trên đã góp phần ổn định tỷ
giá trên thị trường chính thức và thị trường tự do, tạo điều kiện cho thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng hoạt động sôi nổi. Năm 1999 tỷ giá giữa đồng VN và USD khá ổn
định, tỷ giá liên ngân hàng tăng 1%, tỷ giá trên thị trường tự do tăng 1,1% so với
năm 1998. Năm 2000 tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tăng 3,45%, t
ỷ giá trên thị trường tự do tăng 3,18% so với năm 1999. Năm 2001 tỷ giá tăng 3,9%
so với cuối năm 2000. Trong năm 2002 tỷ giá bình quân VND/USD trên thị trường
liên ngân hàng tăng 1,97%, so với năm 2001. Năm 2003 tỷ giá tăng khoảng 1% so
với năm 2002.
Ngày 01/7/2002, NHNN Việt Nam công bố nới lỏng biên độ lên 0,25% so với
tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Đối với các ngoại tệ
khác không phải là USD, các NHTM được quyền chủ động tự định tỷ giá giữa
VND và ngoại tệ đó. Cùng với những thay đổi trong việc nới lỏng biên độ, NHNN
Việt Nam đã cho phép sử dụng một số các công cụ hoán đổi ngoại tệ giữa NHNN
Việt Nam và các NHTM, góp phần điều chỉnh tình trạng bất hợp lý về huy động và
12
sử dụng vốn VND và ngoại tệ của các NHTM. Ngoài ra, để giải quyết nhu cầu
ngoại tệ hợp lý v à phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp trong nước,
NHNN Việt Nam đã cho áp dụng thí điểm nghiệp vụ quyền chọn và NHTM cổ
phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) thực hiện thí điểm nghiệp vụ này.
5/Thời kỳ từ tháng 11/2006 – nay (Từ khi gia nhập WTO ).
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Đối với nước ta, sự kiện này có một ý nghĩa đặc biệt. Đây là kết quả
của quá trình đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN và hội
nhập kinh tế quốc tế. Gia nhập WTO với những cơ hội và thách thức mới cho Việt
Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế. Trước những cơ hội và thách thức đó, lựa chọn
những bước đi đúng đắn và phù hợp trong cơ chế điều hành tỷ giá là điều trăn trở
của các nhà hoạch định chính sách.
Đầu năm 2007, đã có những biến động lớn trong chính sách điều hành tỷ giá
của Ngân hàng Nhà nước thể hiện ở những nội dung sau:
- Nới rộng biên độ tỷ giá: Ngày 02/01/2007, NHNN đã nới rộng biên độ tỷ
giá ngoại tệ từ + 0,25% lên +0,5% so với tỷ giá liên ngân hàng. Việc điều chỉnh
này được cho là mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
- Sự can thiệp vào chính sách tỷ giá của NHNN: Trong ngày 2 và 3 tháng 01
năm 2007, NHNN đã mua ngoại tệ của các NHTM với số lượng nhiều hơn nhằm
giảm bớt tình trạng thừa USD trên thị trường. Ước tính trong 2 ngày, NHNN đã
mua vào trên 140 triệu USD.
- Tỷ giá VND/USD bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp
dụng cho ngày giao dịch do Ngân hàng Nhà nước công bố có cao hơn một chút
(nếu ngày 26.1.2006 là 16.090 thì ngày 2.1.2007 là 16.101, ngày 3.1 là 16.096,
ngày 4.1 là 16.100);
- Tỷ giá VND/USD do ngân hàng thương mại (Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam) bán ra vẫn cơ bản ổn định ở mức trên dưới 16.055 một chút và thấp hơn tỷ
13
giá do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (tương ứng ngày 26.12.2006 là
16.050, ngày 2.1.2007 là 16.051, ngày 3.1 là 16.055, ngày 4.1 là 16.055).
- Tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do cũng cơ bản ổn định và chỉ cao hơn
không đáng kể so với tỷ giá do các ngân hàng thương mại bán ra và cũng
thấp hơn tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (ngày 2.1.2007 là
16.070, ngày 3.1 là 16.070, ngày 4.1 là 16.070).
- Ngày 10.10.2007, giá bán ra đô la Mỹ của ngân hàng là 16.084 đồng,
nhưng cũng ngày này tháng trước thì giá bán ra là 16.244 đồng. Diễn biến này nếu
xem tỷ giá của Việt Nam là tự do biến động theo thị trường thì chúng ta gọi là tiền
đồng Việt Nam tăng giá (appreciation) 160 đồng, hay ngược lại đô la Mỹ giảm giá.
Động thái mới nhất từ phía Ngân hàng Nhà nước nhằm kiểm soát lạm phát
trong năm 2008 là quyết định nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD từ +/-0,5% lên +/-
0,75% ngay trong những ngày cuối năm 2007 (ngày24/12/2007) nhằm tăng khả
năng thanh khoản cho thị trường và tăng cường sự linh hoạt của tỷ giá trong bối
cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam ngày càng lớn, tạo điều kiện cho dòng vốn ra và
vào nhịp nhàng hơn. Theo NHNN, việc mở rộng biên độ lần này nằm trong chủ
trương tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam thích nghi với mức độ mở cửa, hội
nhập nền kinh tế thế giới.
Để giảm bớt áp lực cho các ngân hàng trong bối cảnh cung ngoại tệ thừa, có
điều kiện ấn định tỷ giá theo cung cầu vốn thực tế, ngày 07/3/2008 NHNN đã mở
thêm biên độ tỷ giá thêm một khoảng là +/- 0,25% so với mức +/-0,75% trước đây,
tức là cho phép các ngân hàng được tự đưa ra tỷ giá trong "phạm vi cho phép" là
+/-1% so với tỷ giá chính thức liên ngân hàng.
- Ngày 26/6/2008 NHNN ban hành quyết định số 1346 mở rộng biên độ lên
+2% và ngày 6/11/2008 NHNN tiếp tục ban hành quyết định số 2635 mở rộng biên
độ lên + 3% với mục đích điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt hơn giúp cho các tổ
chức kinh tế và tổ chức tín dụng thích ứng tốt hơn với các biến động trên thị trường
thế giới hiện nay.
14
Liên hệ Tác động của Chính sách 'Đồng tiền yếu' của Việt Nam
Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng khi tiền đồng mất giá trong
chính sách “Đồng tiền yếu”.
Một thực tế đã và đang diễn ra, đó là đồng tiền Việt Nam (VND) đang giảm
giá so với đồng dollar Mỹ (USD). Một dollar Mỹ (1 USD) tương đương 10.000
VND – 12.000 VND cách đây hơn 10-12 năm, giờ đã là khoảng 19.500 VND theo
giá thị trường (gần gấp đôi). Tỷ giá hối đoái được điều chỉnh tự nhiên, khách quan,
do “bàn tay vô hình” của thị trường tự chi phối và điều tiết hay do chính sách can
thiệp tỉ giá của ngân hàng nhà nước và chính phủ từ mềm mại, linh hoạt, nhẹ nhàng
hay “đột ngột” gây sốc cho thị trường. Điều này tác động đến các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu nói riêng như thế nào?
Khảo sát trường hợp doanh nghiệp A, B, C, D, E, F như dưới đây:
- Doanh nghiệp trong các trường hợp A, B, C, D, E, F đều thu được doanh số
100 USD khi xuất hàng
- Các trường hợp làm hàng xuất khẩu với tỉ lệ nội địa hóa khác nhau: A –
nhập khẩu 50% (phải trả cho bên bán nước ngoài 50 USD để nhập hàng nguyên vật
liệu về) tức A phải mua nguyên liệu đầu vào hết 50 USD, còn lại mua trong nước
hay tỉ lệ nội địa hóa đầu vào của A trong trường hợp này là tối đa 50% (không kể
hàng hóa A mua được trong nước cũng do doanh nghiệp khác nhập khẩu về); tương
tự B có tỉ lệ nhập khẩu là 60% hay 60 USD tức tỉ lệ nội địa tối đa tới 40% (dùng
mua hàng trong nước)… và F – nhập khẩu 100% hay nhập hoàn toàn cho mỗi 100
USD doanh số thu về hay F là doanh nghiệp nhập khẩu 100 USD cho mỗi 100USD
xuất khẩu (giả thiết lý thuyết hoặc F chính là doanh nghiệp chuyên nhập khẩu).
- Tỷ giá biến động từ 1 USD tương đương 18.000 VND lên 20.000 VND như
thời gian vừa qua, tức biến động 2.000 VND cho mỗi USD.
- Lợi nhuận (sau chi phí) thu về của các doanh nghiệp A, B, C, D, E, F đều là
10% trên doanh số xuất khẩu 100USD; tức là (a) 180.000 VND tại thời điểm trước
khi tỉ giá biến động (doanh nghiệp dự kiến lời 10% bằng tiền Đồng vì các chi phí
15
doanh nghiệp trong nước được dự kiến bằng VND; và là (b) 10 USD tại thời điểm
thu về bằng USD hàng xuất khẩu. Giả thiết khác: doanh nghiệp chưa thể tăng giá
hàng hóa bán ra.
Giải thích:
Chúng ta nhận thấy, để thu về 100 USD, doanh nghiệp phải trả cho bên bán
nước ngoài (hàng 1) bằng USD với tỉ lệ tăng tương ứng theo tỉ lệ hàng nguyên liệu
phải nhập về. Số tiền đồng (VND) phải trả thêm cho mỗi USD cũng gia tăng theo
(hàng 2 – nhân với 2.000VND).
So với dự kiến lợi nhuận bằng tiền đồng (VND) tức trường hợp (a) thì (xem
hàng số 3) lợi nhuận các doanh nghiệp sẽ giảm từ A: 80.000VND xuống –F:
20.000VND (thua lỗ); nếu theo dự kiến bằng USD như trường hợp (b) (doanh
nghiệp được bán USD theo giá thị trường khi xuất khẩu và thu tiền về) thì đỡ hơn
một chút (xem hàng số 4). Hàng số 5, cho thấy khi so sánh giữa các trường hợp A,
B, C, D, E, F thì mỗi khi tỉ lệ % số tiền USD phải trả để mua hàng nguyên vật liệu
phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh (nhập khẩu) tăng lên 10% thì lợi nhuận dự
kiến của doanh nghiệp giảm 10%. Điều này tỉ lệ nghịch với tỉ lệ nội địa hóa nguyên
vật liệu.
Nếu doanh nghiệp chỉ phải thanh toán hàng hóa bằng tiền đồng VND trong
nước thì sẽ không phải chịu thiệt khi tỉ giá biến động như vừa qua (ít tác động).
Doanh nghiệp có tỉ lệ nội địa hóa càng cao sẽ có ưu thế lợi nhuận lớn hơn doanh
nghiệp có tỉ lệ nội địa hóa thấp, do chịu thiệt khi tiền đồng Việt Nam giảm giá hay
phá giá tiền đồng. Ví dụ: A (nhập khẩu 50% và mua nội địa tối đa tới 50%) sẽ có
lợi hơn B, C, D, E và dĩ nhiên là F vì có tỉ lệ nhập khẩu cho sản xuất kinh doanh
cao hơn (xét biến động tỉ giá chứ không khảo sát lợi thế khi doanh nghiệp mua
hàng giá rẻ từ nước ngoài).
Tỉ lệ nội địa hóa tùy thuộc nhiều vào lĩnh vực, ngành nghề, chủng loại hàng
hóa cũng như lợi thế so sánh của mỗi quốc gia như tài nguyên thiên nhiên (mỏ
quặng, thủy hải sản, nông lâm sản…); cơ cấu dân số và chất lượng dân số lao động
16