Ảnh hưởng của nhiệt độ, oxy, ph lên cá thát lát còm và cá trê vàng giai đọan phôi và cá bột

  • 36 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
VÕ THỊ THUỲ TRANG
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, OXY, PH LÊN
CÁ THÁT LÁT CÒM VÀ CÁ TRÊ VÀNG GIAI ĐỌAN
PHÔI VÀ CÁ BỘT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2009
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
VÕ THỊ THUỲ TRANG
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, OXY, PH LÊN
CÁ THÁT LÁT CÒM VÀ CÁ TRÊ VÀNG GIAI ĐOẠN
PHÔI VÀ VÁ BỘT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. PHẠM MINH THÀNH
2009
2
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
- Cha, mẹ suốt đời tận tụy vì tương lai sự nghiệp của các con.
Thành kính biết ơn!
- Thầy Phạm Minh Thành, đã giúp đở tận tình, trong việc định hướng
nghiên cứu, thường xuyên quan tâm bổ sung dữ liệu, đã cho nhiều ý kiến
để viết thành luận văn này.
- Thầy cố vấn và những thầy, cô Khoa Thủy Sản đã truyền đạt những kiến
thức quí giá để em có được thành quả ngày hôm nay.
Chân thành cảm ơn!
- Tập thể các bạn lớp quản lý nghề cá K31 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá
trình thí nghiệm
Xin chân thành cám ơn
Võ Thị Thùy Trang
3
TÓM TẮT
Đề tài :” ảnh hưởng nhiệt độ, oxy, pH lên cá thát lát còm và cá trê vàng
giai đoạn phôi và cá bột” được tiến hành từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2009
tại trại cá thực nghiệm khoa thủy sản Đại Học Cần Thơ. Đề tài được thực hiện
với mục tiêu thu thập dẫn liệu về một số chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của phôi và
cá bột các loài trê vàng, thát lát còm. Để góp phần làm cơ sở phát triển kỹ
thuật sản xuất cá giống nhân tạo các loài cá đạt hiệu quả cao. Với các nội dung
xác định ngưỡng nhiệt độ, O2, pH của phôi và cá bột, xác định nhiệt độ không
sinh học của cá, xác định tiêu hao oxy của phôi và cá bột. Kết quả thu được:
Ngưỡng nhiệt độ trên của phôi cá trê vàng 41,5  1 và thát lát còm là 37,8  2
và ngưỡng dưới của phôi cá trê vàng là 11,3  2 và thát lát còm là 13,6  1.
Ngưỡng nhiệt độ trên của cá bột cá trê vàng là 42,1  4 và cá bột cá thát lát
còm là 38,2  2 và ngưỡng dưới của cá bột cá trê vàng là 11,5  5 và cá bột cá
thát lát còm là 14,2  3. Nhiệt độ không sinh học của cá trê vàng là 13,4 1 và
thát lát còm là 16,1 1. Ngưỡng pH trên của phôi cá trê vàng là 9,2 0,3 và
phôi thát lát còm là 8,8  0,4. Ngưỡng pH dưới của phôi cá trê vàng là 3,8  0,2
và phôi cá thát lát còm là 4,3  0,3. Ngưỡng pH trên của cá bột cá trê vàng là
9,2  0,3 và cá thát lát còm là 8,8  0,2. Ngưỡng pH dưới của cá bột cá trê vàng
là 3,8  0,2 và cá bột cá thát lát còm là 4,3  0,3. Hàm lượng tiêu hao oxy của
phôi cá trê vàng trung bình là 1,66 và phôi cá trê vàng trung bình là 1,14.
Ngưỡng oxy của cá trê vàng trung bình là 1,04 và cá thát lát còm là 0,970.
4
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ................................................................................................ i
TÓM TẮT...................................................................................................... ii
MỤC LỤC .................................................................................................... iii
DANH SÁCH BẢNG .................................................................................... v
DANH SÁCH HÌNH..................................................................................... vi
Chương I ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................ 1
Chương II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU.............................................................. 2
1.1 Đặc điểm sinh học của cá thát lát còm .................................................. 2
1.1.1 Phân loại.........................................................................................2
1.1.2 Hình thái cấu tạo.............................................................................2
1.1.3 Phân bố...........................................................................................3
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng......................................................................4
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng......................................................................4
1.1.6 Đặc điểm sinh sản...........................................................................5
1.1.7 Môi trường sống và tập tính sinh thái..............................................6
1.2 Đặc điểm sinh học của cá trê vàng 7
1.2.1 Phân loại.........................................................................................7
1.2.2 Hình thái.........................................................................................7
1.2.3 Phân bố...........................................................................................7
1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng......................................................................8
1.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng......................................................................8
1.2.6 Đặc điểm sinh sản...........................................................................9
1.2.7 Môi trường sống và tập tính sinh thái..............................................9
1.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ, oxy, pH 10
1.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ. ...............................................................10
1.3.2. Ảnh hưởng của oxy......................................................................10
1.3.3. Ảnh hưởng của pH.......................................................................12
Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Thời gian và địa điểm ......................................................................... 13
2.2 Vật liệu nghiên cứu............................................................................. 13
2.3 Phương pháp tiến hành ....................................................................... 13
2.3.1 Xác định ngưỡng nhiệt độ của phôi và cá bột............................... 13
2.3.2 Xác định nhiệt độ không sinh học ................................................ 13
2.3.3 Xác định ngưỡng pH của phôi và cá bột....................................... 14
2.3.4 Xác định tiêu hao oxy của phôi cá................................................ 19
2.3.5 Xác định ngưỡng oxy của cá bột . .................................................19
Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 17
3.1 Ngưỡng nhiệt độ của phôi, cá bột của cá thát lát còm và cá trê vàng 20
3.1.1 Đối với phôi cá .............................................................................20
3.1.2 Đối với cá bột ...............................................................................21
5
3.2 Nhiệt độ không sinh học của cá trê vàng bột và thát lát còm bột 22
3.3 Ngưỡng pH của phôi, cá bột của cá thát lát còm và cá trê vàng 22
3.3.1 Đối với cá trê vàng và cá thát lát còm ...........................................22
3.3.2 Đối với cá con của cá trê vàng và thát lát còm ..............................23
3.4 Lượng tiêu hao oxy (cường độ hô hấp) của phôi cá trê vàng và cá thát lát
còm .............................................................................................................. 23
3.5 Ngưỡng oxy của cá bột ....................................................................... 24
ChươngV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT......................................................... 26
4.1Kết luận............................................................................................... 26
4.2 Đề xuất:.............................................................................................. 26
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU............................................................................. 27
6
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1: Lượng tiêu thụ oxy của phôi cá mè trắng ...............................11
Bảng 1.2: Lượng tiêu thụ oxy của cá bột mè trắng .................................11
Bảng 1.3: Lượng tiêu thụ oxy của cá hương, cá giống ...........................12
Bảng 3.1 Ngưỡng nhiệt độ của phôi cá thát lát còm và cá trê vàng ........20
Bảng 3.2 Ngưỡng nhiệt độ của cá bột cá trê vàng và cá thát lát còm ......21
Bảng 3.3 Nhiệt độ không sinh học của cá trê vàng và thát lát còm ........22
Bảng 3. 4 Ngưỡng pH của phôi cá trê vàng và thát lát còm....................22
Bảng 3. 5: Ngưỡng pH của cá con cá trê vàng bột và cá thát lát còm bột23
Bảng 3.6 Hàm lượng tiêu hao oxy của phôi cá trê vàng .........................24
Bảng 3.7 Hàm lượng tiêu hao oxy của phôi cá thát lá còm.....................24
Bảng 3.8 Ngưỡng oxy của cá trê vàng ...................................................25
Bảng 3.9 Nguỡng oxy của thát lát còm ..................................................25
7
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1: Cá thát lát còm .........................................................................2
Hình 1.2: Cá trê vàng...............................................................................7
8
Chương I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay phong trào nuôi cá đã phát triển mạnh mẽ. Trong đó cá thát
lát còm và cá trê vàng đang là hai trong số những đối tượng được ưa chuộng.
Vì nó có đặc tính là thịt ngon, tốc độ sinh trưởng nhanh, có khả năng chịu
đựng cao với môi trường bất lợi, giá thành cao nên được người nuôi ngày càng
quan tâm. Riêng cá thát lát còm có phẩm thịt ngon nhưng nguồn giống đang
thiếu, bên canh đó cá còn là đối tượng được người chơi cá kiểng yêu thích bởi
dáng vẻ bề ngoài rất đẹp.
Thát lát còm và cá trê vàng có thể sống được ở những ao nước tĩnh,
chịu đựng môi trường chật hẹp,nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp…nên có
thể nuôi được trong ao. Nghề nuôi cá thát lát còm đã góp phần ích cực cho
việc chủ đông đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, giảm việc khai thác quá mức cá tự
nhiên, phục hồi và phát triển nguồn lợi cá trong tự nhiên. Trong quá trình
sống, phát triển và lớn lên để trở thành cá thương phẩm và tham gia sinh sản
và tạo thế hệ mới, hầu hết các loài cá đều trải qua quá trình biến đổi phức tạp
dưới tác dụng của yếu tố môi trường, trong đó nổi bật nhất là : nhiệt độ, oxy,
pH. Các yếu tố này sẽ chi phối toàn bộ vòng đời của cá, từ khi còn là trứng
trong bụng mẹ cho đến khi được đẻ ra môi trường ngoài,trải qua quá trình thụ
tinh và phát triển. Phôi phát triển trở thành ấu thể dần hoàn chỉnh cơ thể rồi
đến trưởng thành để tham gia vào sinh sản. Biến đổi quan trọng là quá trình
phát triển phôi và giai đoạn cá bột. Đây là giai đoạn biến đổi sinh lý,sinh thái
phức tạp, từ một trứng qua quá trình biến đổi dưới tác dụng của môi trường trở
thành ấu thể. Ấu thể hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh hoặc đang phát triển dở
dang đến giai đoạn phôi nang thì dừng lại,đều chịu sự chi phối bởi: nhiệt
độ,oxy,pH.
Để phần vào sự phát triển của kỹ thuật sinh sản nhân tạo và những giá
trị của cá thát lát còm và cá trê vàng mang lại cho con người, việc thực hiện
đề tài:” ngưỡng nhiệt của nhiệt độ, oxy, pH lên quá trình phát triển phôi, cá
bột của cá thát lát còm và cá trê vàng.” Là thực sự cần thiết.
Mục tiêu của đề tài:
Thu thập dẫn liệu về một số chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của phôi và cá bột
các loài trê vàng, thát lát còm. Để góp phần làm cơ sở phát triển kỹ thuật sản
xuất cá giống nhân tạo các loài cá đạt hiệu quả cao.
Để đạt được mục tiêu trên nội dung của đề tài bao gồm:
- Xác định ngưỡng nhiệt độ, O2 , pH của phôi và cá bột
- Xác định nhiệt độ không sinh học của cá
- Xác định tiêu hao oxy của phôi và cá bột
9
Chương II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của cá thát lát còm
1.1.1 Phân loại
Hình 1.1: Cá thát lát còm
Dựa vào tài liệu của Trần Văn Hảo (2005); Trương Thủ Khoa và Trần
Thị Thu Hương (1993) cá thát lát còm (Notopterus chitala) có vị trí phân loại
như sau:
Ngành dây sống: Chordata
Ngành phụ xương sống:Vertebrata
Tổng lớp miệng có hàm: Gnathostomata
Lớp cá xương: Osteichthyes
Bộ: Osteoglossiformes
Họ: Notopteridae
Giống: Notopterus
Loài: Notoperus chitala
Tên tiếng việt: Cá Nàng Hai, Cá Thát Lát Còm, Cá Còm.
Tên tiếng anh: Clawn Knifefish.
1.1.2 Hình thái cấu tạo
Cá có hình dáng bên ngoài rất giống cá thát lát nhưng trên thân có
nhiều đốm tròn đen vó viền trắng và phân bố dọc theo vây hậu môn. Cá có
thân hình dẹp bên, cao, hủ vẩy tròn rất nhỏ . Viền lưng cong và nhô cao. Độ
10
cong của lưng tăng dần theo sự lớn lên của cá. Đầu nhọn, miệng rộng hướng
về phía sau ổ mắt. Vây lưng nhỏ và nằm ở giữa lưng. Vây hậu môn rất dài bắt
đầu từ mép vây ngực kéo dài về phía sau và nối liền với vây đuôi nhỏ.
Cá có màu xám bạc, lưng sẫm hơn. Cá trưởng thành có 4-10 đốm đen,
viền trắng nằm dọc phía vây hậu môn. Lúc cá còn nhỏ thân có 10 – 15 sọc đen
thân. Khoảng tháng tuổi phần dưới của các sọc này xuất hiện các đốm nâu
tròn. Cá càng lớn, đốm càng rõ nét trong khi các sọc mờ dần rồi mất hẳn.
(Dương Nhựt Long, 2003 ). Những con có 9 “bông hoa” và thân có màu hơi
ửng vàng được xem là cá cảnh rất đẹp có giá trị cao. Cá càng có tuổi màu sắc
càng đẹp.
Vây lưng: 8 - 9, vây ngực: 13 - 15, vây đuôi, vây hậu môn: 128 - 130,
vảy đường bên 168 - 185. Gai sườn bụng 37 - 38. Đầu nhỏ, dẹt bên. Miệng
trước, rạch miệng xiên kéo dài qua khỏi mặt, xương hàm trên phát triển. Răng
nhiều, nhọn, mọc trên hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương
khẩu cái, trên xương lá mía và lưỡi, ngoài ra còn có đám răng nhỏ mịn trên
xương bướm phụ, có mộ đôi râu mũi ngắn nhỏ, mặt nhỏ. Thân cá dài dẹt bên
càng dần về phía trước bụng càng mỏng, lưng gù, đường bên liên tục. Vây
lưng nhỏ nằm lệch về phía sau. Gốc vẩy hậu môn rất dài nối liền với vây đuôi.
Vây đuôi trên không chẻ. Mặt lưng của thân, đầu có màu xanh rêu, hai bên
hông và bụng màu trắng. Có một hàng chấm đen to tròn có mép trắng chạy
dọc theo phía trên gốc vây hậu môn ở phần đuôi (sách đỏ Việt Nam).
Cá thát lát còm (Notopterus chitala) cá có thịt ngon , nên cũng thường
được nuôi trong các ao nước tĩnh để làm thực phẩm tiêu dung, đồng thời do cá
có tập tính khá hung dữ, cũng như có hình dạng dẹp nên thường được nuôi
riêng trong bể kính làm cá cảnh.
1.1.3 Phân bố
Việt Nam: gặp cá còm chủ yếu ở các sông lớn vào sông Mê Không
(thuộc Tây Nguyên) à các vực nước thuộc hệ thống sông Cửu Long tại các
tỉnh: Long An, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh long, Trà Vinh, Cần
Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Thế giới: Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Indonesia
(Bocnêo, Xumatơra).
Theo Dương Nhựt Long, 2003 cá thát lát còm phân bố ở vùng Ấn Độ,
Thái Lan, Mianma, Innosesia, và Việt Nam. Thường gặp ở nơi nước lặng có
nhiều cây cỏ. Ở nước ta cá sống chủ yếu ở một số nhánh sông lớn đổ vào sông
Mekong ( thuộc Tây Nguyên ) và các thủy vực sông Cửu Long.
11
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Nguyễn Chung, 2006 cá nàng hai có miệng rộng, răng sắc nhọn,
là loài cá ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn ưa thích là động vật đáy, cá, giáp
xác nhỏ và côn trùng. Chúng cũng ăn thực vật thủy sinh và thực vật phù du,
nhưng chỉ chiếm 20 ÷ 30% trong tổng khối lượng thức ăn. Cá nàng hai bơi
chúc đầu xuống đáy để tìm kiếm thức ăn, ban ngày cá ít kiếm ăn chỉ nấp vào
chổ tối, yên tĩnh, cá hoạt động mạnh vào lúc chiều tối. Tính ăn của cá không
ổn định, cá có thể bỏ ăn cho đến kiệt sức và nhiễm bệnh chết nếu như có hiện
tượng sốc môi trường, thay đổi mồi ăn đột ngột hay bắt cá phải ngừng ăn dài
ngày khi vận chuyển. Cá nàng hai có đặc tính sống quần đàn, khi lớn đặc tính
này vẫn còn nhưng cá tự phá bầy săn mồi riêng lẻ. Cá sống chủ yếu ở tầng
giữa và tầng đáy nhưng trong thực tế nuôi thương phẩm, cá nàng hai vẫn ăn
mồi ở tầng mặt, cũng tranh mồi như những loài cá khác nếu như tập cho ăn
đúng giờ. Giai đoạn cá bột, 1 ÷ 4 ngày sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn
hoàng. Giai đoạn cá 4 ÷ 8 ngày tuổi, cá ăn Moina, Daphnia. Từ ngày thứ 9, cá
có thể ăn trùn chỉ, ấu trùng giáp xác, côn trùng. Sau 50 ngày tuổi cá có tính ăn
giống cá trưởng thành. Trong nuôi thương phẩm có thể cho cá ăn mồi sống
hoặc cũng có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến (70% bột cá + 30% bột cám),
các phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm lò mổ, thức ăn đông lạnh hay thức ăn
công nghiệp. Khẩu phần ăn của cá từ 3 ÷ 7% khối lượng cá, tùy theo loại thức
ăn và điều kiện môi trường (Nguyễn Chung, 2006). Hệ tiêu hóa của cá gồm
miệng, thực quản,dạ dày, ruột. Miệng trước rộng, rạch miệng xiên kéo dài ra
khỏi mắt, xương hàm trên phát triển. Răng nhiều, nhọn mọc trên hàm dưới
trên phần giữa xương trước hàm, trên xương khẩu cái, lá mía và lưỡi. Ngoài
ra, còn có đám răng nhỏ mịn trên xương bướm phụ vì vậy chúng có bắt giữ,
cắn xé con mồi. Thực quản ngắn, rộng và có vách hơi dài. Dạ dày hình chử J
có vách hơi dày. Ranh giới ruột non và ruột già phân biệt không rõ ràng. Tỉ lệ
Li/L0 = 0.3 cho nên đây là loài ăn động vật ( kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt,
2003 .
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Nàng Hai có đặc tính sống thành quần đàn nhưng chúng thường phá
đàn khi săn mồi. Cá có thể sống 8-10 năm vì vậy chiều dài có thể hơn 80 cm
và nặng từ 8-10 kg. Ở Myanmar, Thailand và Laos vùng thượng nguồn sông
Mekong bắt được những con nặng trên 10 kg dài 103 cm là bình thường. Ở
nước ta, trên sông Hậu và các chỉ lưu của nó bắt được những con nặng 3-5 kg
(Nguyễn Chung,2006).
12
Ở nhiệt độ 28-320C trứng thụ tinh nở sau 4-5 ngày và chúng vẫn tiếp
tục bám vào giá thể. Sau khoảng 4-5 ngày cá bột tiêu hết noãn hoàng và bắt
đầu dinh dưỡng ngoài. Từ cá bột mới nở đến cá con 3-4 cm mất khoảng 30-40
ngày. Cá chậm lớn và phải mất thêm 30-40 ngày nữa cá mới đạt chiều dài 12-
15 cm. Cá 1 năm tuổi trưởng thành nặng 1-1,2 kg (Nguyễn Chung, 2006).
Trong họ thát lát (Notopteridae) loài cá nàng hai có tốc độ sinh trưởng
nhanh nhất. Trong tự nhiên cá có thể đạt 0,6 ÷ 1 kg, mỗi năm tăng từ 0,9 ÷ 1,1
kg. Cá có thể sống 8 ÷ 10 năm đạt chiều dài hơn 1 m, nặng trên 10 kg (Nguyễn
Chung, 2006). Nuôi thương phẩm cá từ 10 g/con có thể đạt 800 g/con trong 10
tháng (mật độ 6 con/m2). Còn loài cá thát lát có kích thước nhỏ, tốc độ sinh
trưởng chậm. Trong ao nuôi của huyện Thốt Nốt – Cần Thơ cá đạt 100 g sau
12 tháng nuôi (Bùi Xuân Nam, 2001). Thời gian từ khi trứng thụ tinh ấp đến là
7 ngày. Cá bột mới nở đến cá con phải mất đến 35 ÷ 40 ngày mới đạt 3 ÷ 4
cm, cá giống tăng trưởng nhanh đạt 5÷ 6 cm sau 15 ngày. Để đạt kích thước
10 ÷ 12 cm phải ương tiếp 30 ÷ 35 ngày. Nuôi thương phẩm cá lớn nhanh, sau
6 tháng cá có thể đạt 400 ÷ 500 g/con, sau 12 tháng nuôi cá có thể đạt 1
kg/con. Cá càng lớn thịt càng dai thơm, hệ số thức ăn càng giảm (Nguyễn
Chung, 2006). Đối với cá thát lát cá mới nở có kích thước 0,9 ÷ 1 cm, sau 30
ngày ương cá đạt 3 ÷ 4 cm (Nguyễn Thành Trung, 1999). Cá đạt tuổi 1+ có
kích thước 20 cm và khối lượng 100 g/con (Bộ thủy sản, 1996 ). Điểm nổi trội
của cá nàng hai so với các loài cá đang nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long là
khi nuôi thương phẩn, cá nuôi càng lâu càng có hiệu quả kinh tế, sự tiêu tốn
thức ăn giảm. Ở những loài cá rô phi, cá tra, cá basa nuôi đến đạt kích thước
thương phẩm phải lo thị trường tiêu thụ, nếu tiếp tục nuôi cá tăng trưởng
chậm, tiêu tốn nhiều thức ăn (Nguyễn Chung, 2006).
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
Theo Dương Nhựt Long, 2003 thì cá thát lát còm khó phân biệt cá đực
và cá cái. Tới mùa sinh sản , cá đực trở nên vàng hơn, bơi quyến rủ và bắt đầu
dung thân dọn sạch vùng chuẩn bị đẻ. Khi đẻ trứng xong cá cái rời khỏi trứng.
Con đực bảo vệ trứng. Ở nhiệt độ 240C trứng nở 5 – 6 ngày. Mùa vụ sinh sản
của cá thát lát còm là mùa mưa từ tháng 5 – 11. Trứng cá có kích thước 2-3
mm.
Số lượng trứng trong một lần đẻ khoảng 100 – 500 trứng và đẻ thành
nhiều đợt trong 10 – 15 trứng. Trong tự nhiên cá đẻ ở vùng nước cạn. Nhiệt độ
28-290C trứng nở sau 4-5 ngày, cá bột, cá con thường bám tựa vào thực vật
thủy sinh để sống . Cá bột mới nở dài 1,2-1,5 cm dinh dưỡng bằng noãn hoàng
đến ngày thứ 2-4 hình thành miệng cá. Đến ngày thứ 3-7 hình thành mang và
13
nắp mang, đến ngày thứ 5 tuy còn noãn hoàng nhưng đã bắt mồi bên ngoài, cá
thích ăn động vật phù du.
Cá ăn động vật là chính: Các loài giáp xác nhỏ, côn trùng, giun, cá con,
.. Vv. Cá còm chiều dài 30 - 40 cm, trọng lượng 300 - 400 g đã trưởng thành
sinh dục, tuổi sinh sản ở năm thứ ba. Buồng trứng phát triển không đồng đều,
trứng có nhiều noãn hoàng, trứng chín có đường kính trên 2 mm. Cá đẻ nhiều
đợt trong mùa sinh sản từ tháng 5 - 10, mỗi lần đẻ 300 - 1000 trứng. Ở nhiệt
độ 28 - 320C trứng nở sau 4 - 5 ngày đêm, cá bột, cá con thường bám tựa vào
thực vật thủy sinh để sống (rễ bèo, lục bình, rong đuôi chó...vv).
1.1.7 Môi trường sống và tập tính sinh thái
Cá còm sống ở sông rạch ao đầm, ruộng trũng, có thể chịu đựng được ở
các vục nước lượng Oxy thấp, nhờ có cơ quan hô hấp phụ. Mùa nước to cá đi
vào cá đồng ruộng ngập nước để sinh sống, mùa khô cá` ra sinh sống ở các
rạch kênh lớn, sông chính, các vực nước sâu.
Trong điều kiện tự nhiên, cá nàng hai sống ở tầng giữa và tầng giữa và
tầng đáy. Ban ngày cà thường ẩn nấp trong đám thủy vực thủy sinh. Ban đêm
cá hoạt động nhiều hơn, cá bơi lội chậm, nhẹ nhàng, vây hậu môn hoạt động
liên tục như làn sống. Cá thích môi tường có nhiều thực vật thủy sinh lớn,
nước trung tính pH dao động từ 6,5 – 7. Cá có kích thước và trọng lượng nhỏ
thì tiêu hao oxy lớn và ngược lại. Tiêu hao oxy của cá cá trung bình là 0.59
mgO2/g/ giờ ở nhiệt độ 28-290C . Nhiệt độ thích hợp cho cá từ 26- 280C. Ở
nhiệt độ 360C cá nhảy lung tung và lờ đờ, chết dần sau 5 phút . Ở nhiệt độ
140C, cá hôn mê, tê cứng , lật ngang các mang , vây ngưng hoạt động. Nếu
nhiệt độ dưới 150C kéo dài cá sẽ không ăn. (Dương Nhựt Long, 2003).
Cá sống ở sông rạch, ao đầm, ruộng trũng. Cá có khả năng chịu đựng
hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp do cá có cơ quan hô hấp phụ, ngưỡng
oxy của cá giai đoạn 3-30 ngày tuổi tương đối thấp 1,02-0,76 mg/l.
Theo Nguyễn Chung (2006) thì một số chỉ tiêu thủy lý hóa thích hợp
cho cá Nàng Hai sinh trưởng và phát triển như sau:
Nhiệt độ nước độ từ 20-300C
pH: 5,5-8,5
DO: >3mg/l đến bão hòa
14
1.2 Đặc điểm sinh học của cá trê vàng
1.2.1 Phân loại
Hình 2: Cá trê vàng
Cá trê vàng thuộc Bộ: Siluriformes
Họ: Clariidae
Giống: Clarias
Tên khoa học: Clarias macrocephalus
1.2.2 Hình thái
Thân thon dài, dẹp dần về phía đuôi. Đầu to, rộng, dẹp đứng. Xương
gốc có chẩm hình tròn. Miệng to, mắt nhỏ. Khoảng cách hai ổ mắt rộng. Răng
xương lá mía là một dải hình lưỡi liềm. Có 4 đôi râu, dài gần đến gốc hoặc quá
gốc vây ngực. Vây lưng và vây hậu môn dài, không có gai cứng và không liền
với vây đuôi. Vây bụng nhỏ. Vây ngực có một gai cứng mang răng cưa ở mặt
sau. Vây đuôi tròn. Lưng và đỉnh đầu màu đen, bụng vàng nhạt. Hai bên thân
có những chấm trắng tạo thành các hàng thẳng đứng. Vây có màu đen, điểm
các đốm thẫm.
1.2.3 Phân bố
Sông, suối, ao, mương, rạch đầm. Thái Lan, Malaixia, Philipin, Lào. Ở
Việt Nam gặp nhiều ở Nam Bộ.
Họ cá trê gồm nhiều loài ở châu Á và châu Phi. Ở nước ta đang khai
thác và nuôi 4 loài đó là cá Trê Đen ( Clarias focus ), Trê Trắng ( Clarias
batracus ). Trê vàng ( Clarias macrocephalus ) và trê lai.
15
Các loài cá trê nói chung đều chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt
như : ao tù, mương rãnh, nơi có hàm lượng oxygen thấp vì cơ thể cá trê có cơ
quan hô hấp phụ gọi là “hoa khế” giúp cá hô hấp được nhờ khí trời. Cá trê có
đặt tính ăn tạp , thức ăn chủ yếu là động vật. Trong tự nhiên cá trê ăn côn
trùng , giun ốc, tôm cua, cá… ngoài ra trong điều kiện ao nuôi cá trê còn có
thề ăn các phụ phẫm từ trại chăn nuôi, nhà máy chế biến thủy sản, chất thải từ
lò mổ.
1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá trê vàng có cơ quan hô hấp phụ nên chịu được môi trường sống
khắc nghiệt như ao, hồ, nơi có hàm lượng oxy hòa tan thấp (có thể dưới 1
mg/l). Trong tự nhiên, cá thích rúc dưới bùn, chui trong các hang hốc. Nhờ cơ
quan hô hấp phụ, cá sống được ở môi trường chật hẹp, tù bẩn, hàm lượng oxy
thấp. Cá nuôi được ở nhiệt độ cao và môi trường nhiễm bẩn, thích nghi môi
trường nước có nhiệt độ biến đổi rộng 10-400C, pH thấp từ 4,5 và nước lợ có
nồng độ muối thấp.
Sự phát triển của cá trê được phân thành các giai đoạn chính sau:
Ở nhiệt độ nước 27-300C, trứng được thụ tinh sẽ nở sau 23-25 giờ sau
khi nở cá nằm dưới đáy, hoạt động không định hướng. Thời gian này cá dinh
dưỡng bằng noãn hoàng.
Sau khi 5 giờ, cá co cụm lại thành đám nhỏ rải rác khắp nền đáy, chúng
nằm chồng lên nhau, càng về sau cá cá vận động dần tới ven bờ.
Sau khi nở 48-52 giờ cá men theo thành bể lên mặt nước.
Sau khi nở 52-60 giờ, cá tiêu biến hết noãn hoàng, bắt đầu ăn thức ăn
ngoài. Cá hoạt động mạnh mẽ về đêm, ban ngày nằm rải rác dưới đáy bể.
Sau 7-8 ngày cá hình thành cơ quan hô hấp phụ, hình dáng ngoài như
cá trưởng thành.
Tốc độ tăng trưởng của trê vàng ở mức trung bình. Ở giai đoạn từ bột
lên cá giống, cá tăng trưởng nhanh về chiều dài. Khi đạt kích cỡ từ 15 cm trở
lên thì trọng lượng cá tăng nhanh hơn. Trong tự nhiên, cá đạt 1 năm tuổi có
trọng lượng trung bình khoảng 400g/con.
1.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Khoảng 2 ngày đầu sau khi nở, cá con sống nhờ dinh dưỡng từ túi noãn
hoàng. Sang ngày thứ 3 thì túi noãn hoàng bắt đầu cạn kiệt, lúc này chúng bắt
đầu ăn động vật phiêu sinh có sẵn trong nước.
Cá trê vàng là loài cá ăn tạp, chúng thích ăn các loại thức ăn thiên về
động vật. Khi còn nhỏ chúng ăn bo bo, trứng nước, trùng chỉ và các loại giáp
xác vừa với cỡ miệng của chúng. Khi hơn 1 tuần tuổi, chúng ăn được cá con,
16
tôm, tép, các phụ phẩm đông lạnh, đầu cá, đầu tôm, ruột gà, ruột vịt, cám gạo,
bột bắp, bã đậu nành, bã rượu... Cá dễ dàng chuyển đổi thức ăn nên có thể cho
cá ăn thức ăn tươi, thức ăn tự chế biến hoặc thức ăn công nghiệp. Tuy nhiên
thức ăn công nghiệp thì ít người sử dụng vì giá thành cao.
1.2.6 Đặc điểm sinh sản
Cá trê vàng đạt từ 8 đến 10 tháng tuổi mới thành thục và đủ khả năng sinh
sản. Trong nhân tạo cá trê vàng được tiêm kích dục tố để kích thích sự sinh
sản của chúng. Cá trê vàng đẻ trứng tương đối nhiều, trung bình 30.000-
50.000 trứng/kg cá cái.
Mùa vụ sinh sản của cá trê bắt đầu mùa mưa tháng 4- 9 tập trung chủ yếu
vào tháng 5-7.Trong điều kiện nuôi có thể sinh sản nhiều lần trong năm ( 4-6
lần) nhiệt độ đảm bảo để cá sinh sản từ 25-320C. Sau khi sinh sản xong ta có
thể nuôi vỗ tái phát dục khoảng 30 ngày thì cá có thể tham gia sinh sản trở lại.
( Dương Nhựt Long, 2003 ).
Cá trê thành thục 1 tuổi, trọng lượng lớn hơn hoặc bằng 100g ( Nguyễn
Kiểm được trích dẫn từ Trần Thị Thơm,1990). Cá thích sống nhiệt độ rộng từ
25 – 40 0C, thích hợp ở 28-320C là cá cỡ nhỏ. Vòng đời ngắn 2 – 3 tuổi.
Cá cái thành thục buồng trứng có màu vàng tươi, cá thành thục tốt hệ số
thành thục đạt đạt 12,68%, sức sinh sản tương đối 5 vạn trứng/kg cá cái (Trạm
nghiên cứu Đình Bảng được tích dẫn bởi Trần Thị Thơm,1990). Trứng cá trê
thuộc loại trứng dính nên màng trứng trương nước rất ít, trứng màu vàng nâu,
đường kính trước khi thụ tinh là 1,42 mm sau khi thụ tinh là 1.53 mm. Trứng
thụ tinh sau 20-24 giờ trứng nở ở nhiệt độ 25-300C. Sau khi cá nở 3 ngày cá
tiêu hết noãn hoàng đạt kích thước 7.5mm. ( Trần Thị Hồng, 1981 được trích
dẫn bởi Nguyễn Thanh Thùy Giang, 1990 ). Mật độ ấp 4-5 trứng /cm3 ở nhiệt
độ 28-300C cá nở sau sau 23- 26 giờ kể từ khi trứng thụ tinh. Sau 10-12 ngày
cá đạt kích thước cá hương 2-3 cm. (Võ Tòng Xuân – Bùi Lai, 1984 được
trích dẫn bởi Trần Thị Thơm, 1990 ). Trứng cá trê thuộc loại trứng dính (d>1)
đường kính của trứng 1.1- 1.2mm. Sức sinh sản: 50.000 – 60.000 trứng / kg cá
cái. Thời kỳ phát triển phôi 21 – 23 giờ (t0 = 27 – 290C)
1.2.7 Môi trường sống và tập tính sinh thái.
Theo Nguyễn Văn Kiểm, 2004 ở nhiệt độ 28 – 290C trứng cá tra, cá trê
nở sau 26-28 giờ, nhưng khi nhiệt độ tăng 30-310C thì thời gian nở còn 22-25
giờ.
Cá trê vàng có phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 12-390C (Vũ Ngọc Út –
Dương Thúy Yên, 1991 được trích dẫn bởi Danh Thanh Tùng)
17
Do cá trê vàng có thể sống trong điều kiện thiếu oxy (do có cơ quan hô
hấp khí trời) khoảng oxy dao động từ 0.32-4 ppm phù hợp với tập tính sống
của cá trê vàng.
Cá có thể sinh sống, sinh trưởng và thành thục trong điều kiện pH = 4-
4.5. Thường pH thích hợp khoảng 7.8
1.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ, oxy, pH
1.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ.
Sự phát triển phôi cá rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của nhiệt độ. Khi
các điều kiện môi trường thích ứng thì sư thay đổi của nhiệt độ có ảnh hưởng
quyết định tới sự phát triển của phôi.
Nhiệt độ tăng thì thời gian nở trứng rút ngắn và ngược lại, nhưng khi
nhiệt độ tăng gần tới cực đại của nhiệt độ thích ứng thời gian nở chênh lệch
không đáng kể.
Ảnh hưởng của nhiệt độ ở thời kỳ phôi vị, hình thành các đốt cơ và kỳ
phân đuôi tách khỏi noãn hoàng rõ rang hơn so với các thời kỳ khác của quá
trình phát triển phôi.
Khi nhiệt độ 30-310C tỷ lệ dị hình của phôi 60- 70% và tỷ lê phôi chết
trước khi nở 50 -60%. Trong giới hạn thích hợp của nhiệt độ ( 2820C) nhưng
biên độ thay đổi lớn ( T0 >2) đều có ảnh hưởng tới sự phát triển phôi.( Nguyễn
Văn Kiểm, 2004 ).
Theo Trương Quốc Phú (2006) nhiệt độ thích hợp cho cá tôm vùng
nhiệt đới nằm trong khoảng 25-320C. Tuy nhiên cá có thể chịu đựng nhiệt độ
trong khoảng 20-350C.
Ở nhiệt độ nước 180C cá mè trắng ấp nở mất 61 giờ, nhưng ở 280C chỉ cần
18 giờ. Khi nhiệt độ nước cao gần tới mức tối đa, thời gian nở của trứng chênh
lệch nhau không nhiều. Thí dụ: nhiệt độ nước 270C , thời gian nở là 19 giờ 10
phút; nhiệt độ nước 30,20C thời gian nở là 16 giờ 10 phút
1.3.2. Ảnh hưởng của oxy
Theo Nguyễn Văn Kiểm, 2004 thì trong từng giai đoạn phát triển của
phôi nhu cầu về oxy sẽ khác nhau, đồng thời tùy theo đặc điểm của từng loại
trứng mà nhu cầu oxy cũng khác nhau. Những loại trứng bán trôi nổi, có hàm
lượng carotenoid thấp thường cần môi trường có hàm lượng oxy hòa tan cao
hơn so với loại trứng có hàm lượng carotenoid cao hơn.
Tuy nhiên hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp hơn 2ppm thì phôi
sẽ chết ngạt. Để đảm bảo cho phôi triển bình thường thì hàm lượng oxy trong
18
nước thấp nhất phải từ 3-4ppm. Nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho
tôm cá là trên 5mg/l.
Nắm vững điều kiện sinh thái cho phôi thai phát dục và tạo điều kiện
thích hợp nhất cho trứng nở là một khâu quan trọng nhất để năng cao tỷ lệ nở
của trứng.
Các nhà khoa học nước ngoài đã tiến hành nghiên cứu khá nhiều về
sinh thái trong quá trình phát dục của phôi cá, đặc biệt là các nhà khoa học
Liên xô đã nghiên cứu về sự phát dục của phôi cá tầm.ở Trung Quốc trước
ngày giải phóng hầu như không có ai nghiên cứu về sinh thái trong quá trình
phát dục phôi thai của bốn loài cá nuôi chính ,nhưng gần đây đã có nhiều cơ
quan nghiên cứu về vấn đề này, nhất là Học viện thủy sản Thượng hải. Dưới
đây, xin tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về sinh thái trong quá trình phát dục
của phôi thai cá nuôi mà các cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc thu lượm
được.
Bảng 1.1: Lượng tiêu thụ oxy của phôi cá mè trắng
Thời kỳ phôi 2-8 Phôi Phôi Xuất Tim Trứng Nhiệt độ
tế mang vị hiện đập nở nước
Lượng bào mầm
tiêu thụ oxy đuôi
mg/1000 hạt/giờ 0,272 0,319 0,318 0,657 0,846 0,853 25-270C
mg/g/giờ 0,19 0,223 0,223 0,46 0,59 0,597 25-270C
Bảng 1.2: Lượng tiêu thụ oxy của cá bột mè trắng
Thời kỳ cá Bắt đầu Sau khi Sau Sau khi Nhiệt độ
bột tuần hoàn nở 24 khi nở nở 68 nước
Lượng máu giờ 47 giờ giờ
tiêu thụ oxy
mg/1000 con/giờ 0,983 1,64 3,41 3,983 25-270C
mg/g/giờ 0,59 0,82 1,71 1,99 25-270C
Lượng tiêu thụ oxy của cá mè trắng ở mỗi giai đoạn trong quá trình
phát dục cá thể có khác nhau rất rõ rệt. Lượng oxy tiêu thụ nhiều nhất là trước
và sau khi nở, đặc biệt là trong giai đoạn cá bột, sau đó giảm dần.
19
Bảng 1.3: Lượng tiêu thụ oxy của cá hương, cá giống
Cá hương, cá 0,77 1,7 118 130,7 301 284
giống (g)
Lượng tiêu thụ 0,632 0,483 0,264 0,21 0,216 0,178
oxy (mg/g/giờ)
Nhiệt độ nước 28,5-29,6 28,8-29,9 27,3-28,7 27,3-28 23,7 17
1.3.3. Ảnh hưởng của pH
Hầu hết các loài cá đều không có khả năng phát triển trong môi trường
có pH quá cao hoặc quá thấp ( pH < 5 hoặc pH >8). Nhưng điều quan trọng
hơn cả là pH phải ổn định, bất kỳ một thay đổi nào dù rất nhỏ về pH cũng làm
cho trứng ngừng phát triển. Do vậy nguồn nước cung cấp cho quá trình ấp
( Nguyễn Văn Kiểm, 2004). pH của hầu hết các ao cá nước ngọt từ 6-9 và đây
là khoảng pH mà cá, tôm có tốc độ tăng trưởng tốt nhất.
Nhìn chung, thông qua các tài liệu thu thập được việc nghiên cứu chỉ tiêu sinh
lý của phôi và cá bột các loài cá nói chung còn rất hạn chế. Đặc biệt là các loài
trê vàng, thát lát thì chưa thấy tài liệu nào đề cập đến.
20