Ảnh hưởng của đạo đức phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội việt nam hiện nay

  • 190 trang
  • file .doc
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu và thực sự tư tưởng Phật giáo
đã trở thành một góc trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Từ đó có
thể nói rằng, bên cạnh hình ảnh "cây đa, bến nước, sân đình" thì hình ảnh mái
chùa cũng là biểu tượng thân thương, thấm sâu vào tiềm thức và trở thành
một trong những giá trị văn hóa của con người Việt Nam. Đó là nét chung
nhất cho sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với dân tộc Việt Nam, mà chủ yếu là
dân tộc Kinh. Khi chọn đề tài này chúng tôi xuất phát từ ba lý do cơ bản như
sau:
Thứ nhất, xuất phát từ thực tiễn của đạo đức. Trong những năm gần
đây, nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa thì
bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ
những hiện tượng đáng lo ngại về lối sống và đạo đức. Điều này đã được các
nghị quyết của Đảng chỉ ra. Thực ra, kinh tế thị trường là sản phẩm của nhân
loại, nhưng hiện nay ở nước ta, mặt tiêu cực của nó gắn với chủ nghĩa tư bản
đang là một hiện trạng đáng lo ngại. Đó là chưa nói đến sự ảnh hưởng của đạo
đức phong kiến trong một số không ít cán bộ lãnh đạo và quản lý của chúng ta
đang là vấn đề đáng phải quan tâm.
Tiếp theo là trong sự nghiệp đào tạo con người, việc giáo dục đạo đức
cho thế hệ trẻ hiện nay chiếm một vị trí rất quan trọng. Nó không những chỉ ở
mặt chiến lược mà còn nhằm mục tiêu trước mắt là ngăn chặn sự thoái hóa, sa
đọa về lối sống, đạo đức, trước sự tác động của nền kinh tế thị trường cùng
với những mặt tiêu cực của văn hóa ngoại lai. Mục tiêu về công tác giáo dục
của Đảng và Nhà nước ta là đào tạo ra những con người có tầm trí tuệ cao, thể
chất cường tráng, đời sống tinh thần và đạo đức trong sáng, giàu bản lĩnh và
thực sự có ý thức trách nhiệm công dân. Để đạt được mục tiêu đó thì ngoài
2
các nhiệm vụ khác, chúng ta cũng phải coi lại những giá trị đạo đức truyền
thống, tìm ra những thành tố nào có thể góp phần cho việc giảng dạy đạo đức
trong nhà trường, đi đôi với việc giáo dục đạo đức và lối sống cho toàn xã
hội. Đó cũng là một vấn đề cần đặt ra và phải giải quyết.
Thứ hai, xuất phát từ nền văn hóa dân tộc. Nhìn từ góc độ văn hóa
đã thấy rằng, những bài học lịch sử của nhân loại về chiến tranh để lại cho
hậu thế thì có thể gọi chiến tranh văn hóa là nguy hại nhất, mà công cụ
phục vụ cho nó khi cần thiết là chiến tranh quân sự. Chiến tranh văn hóa đã
từng xóa sổ không ít những quốc gia, thậm chí cả những vùng rộng lớn trên
thế giới...
Do vậy, chúng ta có thể khẳng định bằng hình ảnh rằng, văn hóa là cái
hồn của dân tộc, mất văn hóa là mất dân tộc. Từ đó, chúng ta giữ được nền
văn hóa truyền thống của dân tộc là chúng ta giữ được đất nước. Mặt khác,
khi đề cập đến đời sống văn hóa của dân tộc thì không thể bỏ qua một bộ
phận cấu thành nó, đó là đạo đức Phật giáo. Từ những ý nghĩa cao cả và
thiêng liêng ấy nên khi xây dựng một nền văn hóa hiện đại, tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, đòi hỏi chúng ta cũng cần phải nghiên cứu những giá trị đạo
đức Phật giáo và tác động biện chứng của nó với nền văn hóa, đạo đức của
dân tộc.
Thứ ba, xuất phát từ quan điểm đấu tranh giữa chính trị và tôn giáo. ở
góc độ tôn giáo mà xét thì tôn giáo là một hệ tư tưởng, một hình thái ý thức xã
hội đặc biệt, bởi vì ngoài việc thăng hoa của cuộc sống đời thường thì mục
tiêu đi đến hạnh phúc tột cùng của nó không phải ở trần thế. Tôn giáo ra đời
rất sớm, sống dai dẳng và tồn tại đến ngày nay. Trong lịch sử loài người đã có
những thời kỳ tôn giáo đóng vai trò quan trọng, thậm chí có khi chỉ đạo cả
những thể chế chính trị xã hội và hiện nay ảnh hưởng của nó vẫn sâu đậm
trong tư tưởng của nhân dân, nhất là niềm tin của họ. Hiện nay, trong cuộc
đấu tranh niềm tin thì tôn giáo là một hiện trạng đáng chú ý, nhất là hiện
3
tượng tôn giáo đang chấn hưng, đi đôi với việc xuất hiện nhiều "tôn giáo mới"
trong nước và trên thế giới.
Tất cả những lý do và sự thôi thúc như trên, chúng tôi tự đặt cho mình
nhiệm vụ phải nghiên cứu đề tài "Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong
đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ngoài số lượng kinh, luật, luận của Phật giáo được tích lũy cả hơn
2500 năm, theo chúng tôi còn có những công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài vào những năm của thế kỷ XX và hiện nay. Những công trình này sẽ
được liệt kê cụ thể trong phần danh mục tài liệu tham khảo, ở đây chỉ xin
điểm qua một số tài liệu đáng lưu ý:
Cuốn "Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người
Việt Nam hiện nay" do Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997. Phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào
các khái niệm từ, bi, hỉ, xả cùng các giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư
tưởng của con người Việt Nam. Cuốn "Đạo đức học Phật giáo" do Hòa
thượng Tiến sĩ Thích Minh Châu giới thiệu và Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam ấn hành năm 1995 là những bài tham luận của nhiều tác giả. Nội
dung cuốn sách này, các tác giả đã nêu những cơ sở và nhiều phạm trù đạo
đức Phật giáo, phân tích để cắt nghĩa rõ thêm nội dung của chúng như giới,
hạnh, nguyện, thiện, ác v.v... Cuốn "Việt Nam văn minh sử lược khảo" của
Giáo sư Lê Văn Siêu, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu Sài Gòn 1972. Nội
dung cuốn sách khi bàn về lịch sử văn minh Việt Nam, tác giả đã chứng
minh những đặc điểm của Phật giáo để tạo cho tôn giáo này xâm nhập một
cách dễ dàng vào Việt Nam. Cuốn "Có một nền đạo lý Việt Nam" của Giáo
sư Nguyễn Phan Quang, Nxb TP. Hồ Chí Minh 1996. Trong cuốn sách này,
tác giả đã cho người đọc thấy sự hòa nhập của đạo đức Phật giáo trong đạo
4
lý dân gian Việt Nam. Cuốn "Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam", tập
1 của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2002. Phần khai thác ở nội dung cuốn sách là tác giả đã khái quát những nét
cơ bản về quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc
Việt Nam v.v... Ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất chuyên đề
thì đạo đức Phật giáo còn được bàn xen kẽ, rải rác trong các tác phẩm văn
học, mỹ học, sử học và tôn giáo học v.v...
Nhận xét chung thì tất cả những công trình nghiên cứu mà chúng tôi
có dịp tham khảo đều mang tính nghiêm túc và rất đáng trân trọng. ở khía
cạnh này hay khía cạnh khác, các tác giả đã đề cập những vấn đề cần thiết để
xây dựng một nền đạo đức. Tuy nhiên, ở từng góc độ tiếp cận và quan điểm
khác nhau nên các tác giả đều có hướng đi của mình để đến mục đích riêng.
Từ đó, theo chúng tôi thì hiện nay chưa thấy một công trình nào bàn có tính
hệ thống về công việc mà chúng tôi sẽ tiến hành. Xuất phát từ những suy
nghĩ, phát hiện như thế đã chỉ cho chúng tôi những việc cần phải làm.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là từ góc độ triết học thâm nhập vào cơ sở và hệ
thống đạo đức Phật giáo để tìm ra sự ảnh hưởng của nó trong đời sống đạo
đức của xã hội Việt Nam truyền thống và hiện nay. Qua đó, tìm ra đặc điểm
của sự ảnh hưởng đạo đức Phật giáo ở Việt Nam và quan điểm ứng xử với
đạo đức Phật giáo.
Theo mục đích trên thì nhiệm vụ trọng tâm của luận án là tiếp cận
cơ sở, đặc điểm, những phạm trù cơ bản, những mô hình, giá trị phổ quát
của hệ thống đạo đức Phật giáo. Tiếp cận truyền thống, tín ngưỡng, triết lý,
tâm lý, đạo đức cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Qua đó, góp phần lý giải
cho việc du nhập Phật giáo vào Việt Nam, đồng thời sự dung hợp và ảnh
hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam
5
từ truyền thống đến hiện nay. Từ cơ sở đó, góp phần đưa ra những giải
pháp định hướng cho việc ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong xã hội
Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo. Về
phương pháp nghiên cứu, trước hết phải có thái độ khách quan vì nó là tiêu
chuẩn số một để có quan điểm nhận xét, đánh giá đối tượng nghiên cứu được
rõ ràng, chính xác hơn. Một số phương pháp phổ biến được áp dụng cho đề
tài là: Lịch sử và lôgic; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng
hợp; phương pháp thống kê v.v...
5. Những đóng góp của luận án
Thông qua việc giải quyết nhiệm vụ để đạt mục đích như trên, luận án
cố gắng đưa ra một số thành tố mới. Chúng tôi khái quát nội dung nghiên cứu
để xây dựng chúng theo hệ thống riêng của mình. Từ đó, lý giải về sự ràng
buộc lẫn nhau giữa các phạm trù giáo lý với các phạm trù đạo đức Phật giáo.
Bên cạnh đó, một số quan niệm, một số phạm trù đạo đức Phật giáo cũng cần
phải bàn thêm. Góp phần tìm ra nguyên nhân, đặc điểm của sự dung hợp và
ảnh hưởng lẫn nhau giữa đạo đức Phật giáo với đạo đức Việt Nam từ quá khứ
đến hiện đại.
Khái quát vai trò của đạo đức Phật giáo trong việc dung hợp, tham gia
giáo dục lối sống và đạo đức hiện nay. Qua đó, kiến nghị những giải pháp để
đạo đức Phật giáo phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế trong việc ảnh hưởng
đến đời sống đạo đức của xã hội ta hiện nay.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
6
Kết quả của luận án góp phần dùng làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu và giảng dạy môn Đạo đức học. Luận án cũng có thể dùng làm tài
liệu tham khảo trong việc giảng dạy các môn học như: Lịch sử triết học phương
Đông; Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam.
7. Giới hạn đề tài
Phạm vi của luận án là từ góc độ triết học Mác - Lênin để nghiên cứu
một hệ thống đạo đức của một tôn giáo cụ thể, du nhập và ảnh hưởng đến một
nền đạo đức của một dân tộc cụ thể. Từ đó, tuy nội dung luận án có sử dụng
các tư liệu, luận cứ, luận chứng cho việc chuyển tải ý tưởng hoặc so sánh để
làm nổi bật những vấn đề nghiên cứu, nhưng trọng tâm của đề tài là tuân thủ
theo tên gọi của nó.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận án gồm 3 chương, 6 tiết.
7
Chương 1: ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.1. VỊ TRÍ CỦA VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
Khoảng 600 năm trước Tây lịch (tr.TL), dân tộc Ấn Độ đã chứng kiến
sự ra đời của một hệ tư tưởng vĩ đại mang tầm vóc nhân loại. Đó là đạo Phật.
Trải qua hơn 25 thế kỷ, tư tưởng của đạo Phật không những vẫn tồn tại, có
ảnh hưởng rộng lớn trên thế giới mà còn được mọi người biết đến như là một
phát hiện đầy mới mẻ. Đó là điểm đáng lưu ý về Phật giáo.
Khác với các giáo chủ huyền thoại của nhiều tôn giáo, vị Giáo chủ
sáng lập ra đạo Phật là một nhân vật lịch sử - đó là đức Phật Thích Ca. Xuất
phát từ việc nhìn thấy nỗi khổ ở đời, Ngài đi tìm con đường diệt khổ cho
mình, cho con người và chúng sinh nói chung. Từ con đường ấy, trong hệ
thống tư tưởng của Phật giáo có hệ thống đạo đức của nó.
1.1.1. Cơ sở, nền tảng cơ bản của đạo đức Phật giáo
Cũng như sự dụng tâm của các học thuyết khác, cái ý nghĩa cao cả của
Phật giáo là chỉ ra mục đích sống. Qua đó, Phật giáo xác định cho con người
có một niềm tin, một thái độ sống, hay là đi tìm và xác định cái ý nghĩa đích
thực của nhân sinh. Vậy, mục đích và ý nghĩa của cuộc đời là gì? Thực ra, đó
chỉ là câu hỏi thông dụng nhưng người ta không dễ gì đưa ra một câu trả lời
cho thỏa đáng. Do vậy, cái điều đơn giản vĩ đại ấy đã và vẫn xuyên suốt cả
lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Từ đó, nói ngắn gọn thì mục đích của Phật giáo cũng như đạo đức
Phật giáo là chỉ ra con đường để con người nói riêng và chúng sinh nói chung
tự giải thoát. Muốn thực hiện được hoài bão ấy thì cơ sở của đạo đức Phật
giáo là các phẩm phương tiện dùng con người nói riêng và chúng sinh nói
chung diệt vô minh (Avydya). Điều này, ngay trong nền tảng đầu tiên của
Phật giáo, hay là chân lý làm nền tảng thứ nhất của giáo lý Phật giáo là "vạn
sự khổ" đã thể hiện rõ. Tuy nhiên, điều cần nói thêm ở đây là: khi Phật giáo
8
cho cuộc đời là "vạn sự khổ" thì đó không phải là cái nhìn bi quan mà đơn
thuần chỉ là một nhận định thôi. Theo tinh thần của Phật giáo thì cái khổ này
nằm ở cái hữu ngã, cũng có nghĩa là con người bằng ý thức của cái "Ta" hoặc
cái "Tôi" của mình thấy những điều khó chịu đựng ấy là khổ. Như vậy, cái
khổ ở góc độ này nó thường tỷ lệ thuận với sự hiểu biết. Khác với một số tôn
giáo, khi nói về cái khổ Phật không coi đó là tội lỗi mà cho rằng, do chúng
sinh từ mê lầm (vô minh) mà ra. Phật quan niệm cái khổ nhất của con người
và chúng sinh là vô minh và bao giờ diệt hết vô minh là hết khổ. Đương thời,
để chống lại quan niệm của Bà-la-môn giáo cho con người khổ vì đầy tội lỗi
nên phải tắm nước sông để rửa tội, Phật khẳng định:
Tắm gội nước sông không rửa được tội lỗi. Nếu mà nước có
thần lực để rửa sạch tội ác thì những con cá sấu sát nhân kia phải
lên Thiên đàng hết. Nước không có phép màu tẩy rửa chúng ta...
Trong trắng là người trung ngôn và chính trực [23, tr. 12-13].
Từ mục đích diệt vô minh, Phật giáo đưa ra và triển khai các phẩm
phương tiện xuyên suốt từ tinh thần giáo lý đến quan điểm đạo đức. Dĩ nhiên,
ngoài những chuẩn mực sơ khai thì đạo đức của một học thuyết nào cũng
được rút ra từ kết quả giáo lý của học thuyết ấy. Từ đó, trước hết có thể rút ra
vài điểm cơ bản làm cơ sở cho đạo đức của Phật giáo.
Thứ nhất, Phật giáo đặt trọng tâm vào con người. Con người ở đây là
con người hoặc chúng sinh cụ thể, chứ không phải con người hoặc chúng nói
chung. Về vấn đề này, trong nhiều bài giảng của đức Phật, Ngài thường sử
dụng phương pháp đối thoại trực tiếp, khích lệ và chỉ rõ những khiếm khuyết
cũng như trách nhiệm của mỗi người một cách trực tiếp. Chẳng hạn, khi Phật
trả lời câu hỏi của thôn trưởng Asibandhakaputta về việc có cầu khẩn cho
người làm ác vãng sinh lên cõi Chư thiên được không, qua tỷ dụ của việc cầu
khẩn cho một tảng đá lớn nổi lên mặt nước, Ngài kết luận:
9
Cũng vậy, này thôn trưởng. Người nào sát sanh, lấy của
không cho, sống theo tà hạnh trong các ái dục, nói láo, nói hai lưỡi,
nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến.
Rồi quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương,
chấp tay đi cùng khắp, nói rằng: "mong rằng người ấy sau khi thân
hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này".
Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi
dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục [101, tr. 313].
Như vậy, trong những cách giảng giải của đức Phật, có một cách là
giảng trực tiếp và chỉ cho đối tượng tự xác định lấy kết quả do hành động của
mình gây ra. Từ quan điểm ấy nên giống như Khổng Tử, tùy theo trình độ của
người nghe mà Thầy giải nghĩa về chữ "nhân", Phật cho rằng, do chúng sinh
vô lượng, tính dục lại khác nhau, trí căn khác nhau nên khi thuyết pháp Ngài
phải dùng các phương tiện khác nhau, thời pháp khác nhau để giảng giải cho
phù hợp. Toàn bộ những điều cốt tử của Phật giáo, nếu tóm tắt thì chỉ có khổ
(Dukka), Không (viết hoa - Sunyata), vô thường (Amytya), vô ngã (Anatman),
nhưng sự triển khai cụ thể từng hoàn cảnh, từng thời pháp thì khác nhau, cho
nên chúng trở thành phong phú...
Nói về trách nhiệm của chính mình về những hành vi thiện ác, nhơ
bẩn hoặc trong sạch do chính mình làm ra, trong kinh "Pháp Cú", đức Phật
dạy: "Làm dữ ở nơi ta, mà nhiễm ô cũng bởi ta; làm lành bởi ta, mà thanh tịnh
cũng bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được" [49, tr. 43].
Trên con đường giải thoát khỏi cái khổ đến A-tăng-kỳ kiếp (Asamkhya -
kiếp không thể đếm được), Phật giáo dạy con người quay trở về nương tựa
chính mình, trong hiện tại, tại nơi đây với tinh thần: "Chính tự mình làm chỗ
nương tựa cho mình chứ người khác làm sao nương được? Tự mình khéo tu
tập mới đạt đến chỗ nương tựa nhiệm màu" [49, tr. 42].
10
Quan trọng hơn, tinh thần của tư tưởng trên được khẳng định trong
phẩm "Ambapàli". Sau khi giảng cho Đại đức ànanda về quan điểm "tự mình
làm ngọn đèn cho chính mình, hãy tự nương tựa chính mình", Phật kết luận và
xác định nó như là một tiêu chí để phân biệt chân tu và phàm tu:
Này Ànanda những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tư
mình là ngọn đèn cho chính mình, tự nương tựa chính mình, không
nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng
Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác;
những vị ấy, này ànanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ
kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi [38, tr. 240-241].
Nhất quán với quan điểm trên, những lời dạy cuối cùng của đức Phật
đã thể hiện rõ: "Ta cũng như vị lương y biết bịnh mách thuốc, uống hay
không chẳng phải lỗi của y sư; lại cũng như kẻ hướng đạo giỏi, chỉ người
đường tốt nghe mà không đi chẳng phải lỗi tại kẻ chỉ đường" [99, tr. 400].
Tất cả những lời chỉ giáo như trên, việc xác định đặt trọng tâm vào
con con người trong đạo đức Phật giáo đã rõ ràng. Xác định việc đặt trọng
tâm vào chính con người hay chúng sinh cụ thể, giáo lý Nhân quả và thuyết
Nghiệp báo của Phật giáo xác định rõ con người là chủ nhân, là kẻ thừa tự của
nghiệp. Do vậy, nếu cái khổ phát sinh từ đó, thì cũng từ đó để phát sinh việc
dập tắt khổ đau hay là từ đó để phát sinh hạnh phúc.
Thứ hai, cơ sở trực tiếp của đạo đức Phật giáo là thuyết Nghiệp báo.
Đây là luật Nhân quả của đạo Phật được học thuyết này triển khai, áp dụng để
nghiên cứu sâu vào lĩnh vực của đời sống của con người.
Đáng tiếc là các sách nghiên cứu và phổ biến về Phật giáo hiện nay
chưa có sự thống nhất về khái niệm "nghiệp" (Karma), trong khi nghiệp là
một tiêu chí rất quan trọng để lý giải các chuẩn mực đạo đức cũng như hành
vi đạo đức của Phật giáo. Qua nghiên cứu và so sánh quan niệm của các học
giả để thâu tóm thì nên hiểu nghiệp là thế này: Nghiệp là một khái niệm thuộc
11
về đời sống của con người nói riêng và chúng sinh nói chung, dùng để chỉ cái
vừa ở bên trong, vừa ở bên cạnh của hành động, là nhân chứng giống như
hình với bóng của hành động, đi theo hành động để trở thành kết quả của
hành động.
Luật Nhân quả và thuyết Nghiệp cũng không phải là sản phẩm riêng
của Phật giáo mà là sản phẩm chung của tôn giáo và triết học Ấn Độ. Tuy
nhiên, từ quan điểm Trung đạo (Madhya marga), của vô ngã, Phật khái quát
để trình bày chúng có tính hệ thống và đặc biệt chú ý đến "ý nghiệp". Trong
giáo lý nhà Phật, chính ý nghiệp là khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác.
Nội dung của nghiệp bao quát rất rộng về cả mặt không gian, thời
gian, đặc điểm, tính chất nên nó rất phức tạp... Cái quan trọng ở đây là do quả
báo của nghiệp từ sự vay trả, nó "giống" như là một cuốn sổ ghi công nợ của
ta, cho nên chủ yếu con người hoặc chúng sinh phải tái sinh để tự giải quyết
cái "công nợ", cái "của nợ" ấy của mình. Đó là sự chiêu cảm quả khổ hay
sướng... của mỗi con người hay chúng sinh nói chung. Tư tưởng này cũng na
ná như Hồi giáo khi Thượng đế Allah phán truyền: "Và Ta cột vào cổ của mỗi
người (quyển sổ) hành động của y, vào ngày Phán Xử Cuối Cùng Ta sẽ mang
một Quyển sổ (đó) đến mở sẵn cho y đọc" [5, tr. 549].
Tuy nhiên, khác với nhiều tôn giáo, Phật giáo không quan niệm cái
"chủ nhân" đó là linh hồn, cũng không quan niệm việc chở luôn cả cái "tạng
thức" ấy sang một kiếp sống mới. Phật giáo cho rằng, trong tạng thức thì cái
cô đọng, tinh túy của nghiệp quả trở thành "chủng tử" (Hrich - hiểu chính xác
hơn là nó được ví như cái mầm của hạt giống, chứ không phải là hạt giống).
Cái "mầm" ấy chẳng có tính linh gì cả, mà dù có linh chút ít cũng không thể
gọi là linh hồn được; cũng chẳng có lực lượng nào ra ân huệ hay trừng phạt
nó cả, ngoại trừ nó. Cái "mầm", đồng ý là từ quả của cây cũ sinh ra nhưng khi
nó mọc thành cây mới, không có chuyện giống y nguyên cây cũ mà nó chỉ
giống những cái được cô đọng mà thôi. Trong đời sống mới, gặp duyên mới,
12
nó sẽ cô đọng để tạo ta cái "mầm" mới cho một kiếp sống mới, cho nên vừa là
nó lại không phải là nó. Đó cũng là lẽ để Phật giáo giải thích sự khác nhau rất
phức tạp của từng kiếp sống. Do nghiệp báo tự mình làm ra, cho nên chính
mình bị lôi cuốn vào vòng Lục đạo hay là phải lăn lóc triền miên trong vòng
sinh tử luân hồi, chết đi sống lại đến A-tăng-kỳ kiếp cũng không tìm thấy tiếp
tuyến để giải thoát!
Theo lẽ đó, Phật chỉ ra rằng: chỉ cần một chúng sinh cụ thể nào đó thì
theo thời gian, xương của họ cũng chất nhiều hơn núi và nước mắt của họ
cũng nhiều hơn bốn biển lớn! Trong phẩm "Nước mắt" Phật có dạy:
Cái này là nhiều hơn này các Tỷ kheo, tức là dòng nước mắt
tuôn chảy, do các ngươi than vãn khóc lóc, phải hội ngộ với những
gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các ngươi
phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, chớ không phải
nước trong bốn biển lớn [100, tr. 207].
Trong các phẩm "Quả đất", "Sữa", "Cây gậy", "Núi", "Hột cải", "Cát
Sông Hằng"..., Phật đã chỉ ra một cách toàn diện của cái nghiệp và luân hồi
do sự vay trả, cuối cùng Ngài kết luận: "Cho đến như vậy này các Tỷ kheo là
vừa đủ để các ngươi nhàm chán, là vừa đủ để các ngươi từ bỏ, là vừa đủ để
các ngươi giải thoát đối với tất cả các hành" [100, tr. 208].
Như vậy, giải thoát cũng có nghĩa là trả nghiệp cũ và không vay thêm
nghiệp mới bắt đầu từ ý nghiệp, khi nào chúng sinh trả hết nghiệp, không
"lạc" vào nghiệp, không "muội" vào nghiệp thì được tự do hoàn toàn.
Thuyết Nghiệp cũng bổ sung, cụ thể hóa cho vô thường, vô ngã trong
đời sống của chúng sinh. Tư tưởng của thuyết Duyên khởi cùng với kinh
"Phạm Võng" (Brahmajala), kinh "Diệu Pháp Liên Hoa" đã chỉ ra rằng, một
hành động dù nhỏ như thế nào cũng được ghi dấu ấn, rung động và ảnh hưởng
đến toàn vũ trụ. Do vậy, nếu như vô thường, vô ngã tạo cho người ta có tư
tưởng sống gấp, chụp giật, "cờ đến tay thì phất" vì thời cơ hiếm... thì nghiệp
13
báo sẽ kiểm tra hành động của họ.
Xây dựng thuyết Nghiệp, Phật giáo giải thích tất cả những nỗi băn
khoăn của người ta ở đời. Đến đây có thể hiểu cái "Ta" của Phật giáo mà cụ
thể con người hay chúng sinh riêng biệt thực chất là sản phẩm của hành động
hay là cái nghiệp, nó lang thang trong vòng Lục đạo của luân hồi sinh tử, nó
cũng chẳng có chỗ nào để đi và về cả. Từ việc cho con người hay chúng sinh
chính là nghiệp báo được thể hiện từ hành, cho nên con người của Phật giáo
là con người của hành động và điều này khác hẳn với con người của nhiều
học thuyết khác.
Quan điểm về nghiệp của Phật giáo cũng khác với một số tôn giáo Ấn
Độ ở chỗ: họ cho cái nghiệp như là cái gì đè nặng suốt một đời người, như là
một thứ định mệnh thì Phật giáo chấp nhận nghiệp quá khứ và hiện tại, còn
tương lai tùy thuộc vào ta. Quan điểm này của Phật giáo xuất phát từ vô ngã,
vô lượng tướng, bởi vì nếu sự vật hiện tượng có ngã tướng cứng nhắc thì
chúng không thể thay đổi được. Như vậy, cái gì trước kia ta làm ác, nay từ bỏ
nó và không chấp vào hành vi ấy nữa mới là điều kiện tiên quyết để giải thoát.
Trong phẩm "Vỏ ốc", Phật đã trả lời cả một đoạn dài cho Asibandhakaputta,
một đệ tử của phái Ni-kiền-tử (Nirgrantha) về Ngũ dục (sát sanh, lấy của
không cho...), đồng thời cũng sửa sai cho cách hiểu chấp ngã của học phái ấy
(Phật ví tư tưởng của họ bị giam trong vỏ ốc). Cuối cùng, Ngài kết luận:
Ví như, này thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và (bằng vỏ ốc), với
ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này thôn trưởng, tu tập xả
tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có
hạn lượng. ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây sẽ không còn tồn tại [101, tr.
323].
Mục đích thiết thực và trước mắt của thuyết Nghiệp là Phật giáo mong
muốn ai ai cũng phải làm thiện, tránh điều ác và thuyết Nghiệp đánh giá đạo
14
đức của hành động, đồng thời cũng cho thấy sự nghiêm khắc của luật Nhân
quả. Do vậy, thuyết Nghiệp của Phật giáo liên quan trực tiếp đến hệ thống đạo
đức cũng như các chuẩn mực, hành vi của đạo đức Phật giáo.
Thứ ba, Phật giáo xây dựng đạo đức trên nền tảng của triết lý vô ngã
(Anatman). Vô ngã là phạm trù đương thời được Phật dùng theo quan điểm
Trung đạo để không công nhận tư tưởng cho rằng có hữu ngã và vô ngã một
cách cứng nhắc, cực đoan của Bà-la-môn giáo cùng những học thuyết chống
Bà-la-môn giáo. Phật dùng thuyết Vô thường (Amitya) và nhất là Vô ngã cũng
là để không công nhận quan niệm của các học thuyết khác cho có linh hồn
(Jiva, Atman, Purusa...) hoặc không có linh hồn và linh hồn bất tử.
Theo Phật giáo, vô ngã không chỉ bó hẹp trong cái "Ta" của con
người, của tôi, của anh mà là không có cái ngã tuyệt đối ở tất cả các sự vật,
hiện tượng của vũ trụ nói chung. Vô ngã không những là vô ngã ở tất cả
các sự vật, hiện tượng mà cụ thể còn vô ngã cả không gian, thời gian, pháp
và vô lượng nghĩa. Tư tưởng này nằm trong kinh "Đại thừa vô lượng
nghĩa" và các kinh khác...
Điểm cần khai thác là từ "vô ngã" nên sự vật, hiện tượng có vô lượng
tướng. Nếu sự vật, hiện tượng chỉ có một tướng thì không thể nào sinh ra
tướng khác chứ đừng nói là vô lượng tướng. Ngay cả nhận thức của chúng ta
cũng vô tướng nên chúng ta mới có thể nhớ lại quá khứ và hiểu biết thêm
những cái mới. Bản thân nghiệp cũng vô lượng tướng nên chúng sinh mới tu
để chuyển nghiệp. Như vậy, cái từ cái vô tự tính ấy nên về đạo đức, người ta
mới có thể tu để chuyển từ ác thành thiện, từ vô minh đến giác ngộ.
Thuyết Vô ngã là một nhân tố hết sức quan trọng và chiếm vị trí đặc
biệt trong giáo lý Phật giáo. Bản thân cái "ngã" cũng chỉ là một thứ "nhãn
hiệu" dán lên một sự hiện hữu liên tục mà thôi. Về nhận thức, người nào càng
vô ngã bao nhiêu thì càng nhìn thấy cái ngã của người khác chính xác bấy
15
nhiêu. Phật dạy rằng, hành giả nói chung phải luôn nhìn mọi vật, mọi hiện
tượng bằng con mắt vô ngã. Cũng từ cái nhìn vô ngã như thế hành giả mới có
thể quán được lẽ Không của vạn vật để từng bước diệt khổ, cũng có nghĩa là
từng bước để giải thoát.
Từ ý nghĩa và đặc điểm của vô ngã như trên nên Phật giáo cho rằng,
vô ngã cũng chính là Niết Bàn vậy. Vô ngã cũng góp phần đặc biệt làm cơ sở
lý luận để Phật giáo xây dựng tư tưởng đạo đức cùng với việc giải thoát cho
con người và chúng sinh nói chung. Bên cạnh đó, triết lý về vô ngã là tiêu chí
rất quan trọng để phân biệt đạo đức Phật giáo với những hệ thống đạo đức
khác.
Thứ tư, tinh thần của bi, trí, dũng. Trước hết, xuất phát từ việc diệt vô
minh nên cái "bi" theo tinh thần Phật giáo nó rộng và sáng suốt đến vô lượng,
do đó nó có đặc điểm riêng và càng không phải là bi lụy theo tinh thần của
tham ái chấp ngã. Trên con đường loại bỏ cái khổ, cái "bi" của Phật giáo gắn
liền với trí. Cái "trí" (trí tuệ - Praijna) của Phật giáo được xuất phát từ Chánh
kiến, trong này bao gồm cả Chánh tư duy, nói đơn giản là nhìn sự vật, hiện
tượng, kể cả bản thân mình cho rõ và suy nghĩ về chúng cho đúng với tinh
thần vô ngã. Do đó, Chánh kiến là một pháp luôn dẫn đầu các pháp hành. Lấy
đó là căn bản thì trên con đường diệt khổ, trước hết hành giả phải nhận rõ
thực trạng của cái khổ cùng nguyên nhân gây ra nó để nhận chân ra con
đường loại bỏ nó. Với ý nghĩa như vậy nên thiếu Chánh kiến thì hành giả sẽ
đi chệch con đường giải thoát. Từ đó, Phật giáo luôn đứng vững trên hai chân:
từ bi và trí tuệ. Trong mối quan hệ này, Phật giáo cho rằng, trí tuệ mà không
có từ bi là trí tuệ điêu xảo, còn từ bi mà không có trí tuệ là từ bi mù lòa, cho
nên Phật giáo luôn quý trọng những thiện nam, tín nữ, quý trọng những người
thiện trí thức. Với con người của Phật giáo, bi và trí phải gắn liền với dũng.
Cái "dũng" của Phật giáo không chỉ là sự bất thối chuyển trên con đường giải
thoát, mà còn là sự chiến thắng mọi thứ với tinh thần "sự sự vô ngại", kể cả
16
chiến thắng bản thân mình. Theo Phật, chiến thắng oanh liệt nhất là tự chiến
thắng lấy mình và Ngài dạy: "Thắng ngàn quân giặc ở chiến trường chẳng
bằng người tự thắng. Người tự thắng là chiến sĩ oanh liệt nhất" [49, tr. 32].
Bi, trí, dũng là ba phạm trù có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau,
bi phải cần trí soi sáng, trí phải cần dũng để có nghị lực chịu đựng và vượt
mọi chướng duyên nghịch cảnh. Ngược lại, dũng cũng cần trí để có hành
động sáng suốt và hành động ấy dựa trên nền tảng của từ bi. Theo Phật, người
tu hạnh Bồ Tát phải lấy từ bi làm gốc và từ bi cũng là cái tâm của Phật giáo -
cái tâm để xóa bỏ mọi sự khổ đau cho mình và cho chúng sinh. Bàn về vấn đề
này, Matthieu Ricard nguyên là một tiến sĩ sinh vật học tại Viện Pasteur Paris,
sau này trở thành một nhà sư Tây Tạng đã nhận xét:
Phật giáo phối hợp kiến thức về sự vận hành của Tâm - rất
nhiều bản văn đề cập đến việc này - và về bản thể của Tâm. Hiểu
được điều này sẽ giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của cái
Tôi. Phương cách áp dụng rất hữu hiệu và đa dạng. Người ta tìm
cách khắc chế những tình cảm sai lạc: quán từ bi trước sự nóng
giận, quán thiểu dục trước sự ham muốn và nghĩ đến nhân quả nếu
mất sáng suốt trong hành động. Hận thù chỉ đưa đến hận thù, lịch sử
loài người và các quốc gia đã chứng minh là hận thù không bao giờ
giải quyết được bất kỳ một sự xung đột nào [75, tr. 53].
Như vậy, bi, trí, dũng là ba điểm cần thiết cho việc giải thoát cũng
như tinh thần đạo đức của Phật giáo, chúng cũng liên quan đến những vấn đề
sẽ được bàn tiếp theo. Tất cả những vấn đề trên còn được Phật giáo đặt trên
cơ sở của giáo lý Duyên khởi (Paticcasamuppâda) và đây là cái đặc trưng của
Phật giáo. Thuyết Duyên khởi nói rõ sự tương quan, tương duyên của tất cả
các hiện tượng tâm lý và vật lý. Theo Phật, tất cả các pháp đều không có tự
tính, do nhân duyên sinh, hay là "vạn pháp thị nhân duyên". Do vậy, nếu mọi
vật, mọi hiện tượng do nhân duyên sinh thì cũng từ nhân duyên mà diệt, cho
17
nên con người chỉ ổn định khi nào thể hiện được sự hòa hợp giữa cái bên
trong của mình với hoàn cảnh bên ngoài.
Một vấn đề thiết yếu nữa cần phải đặt ra là cái tâm của con người.
Nhìn chung có một chỗ giống nhau về quan điểm làm cơ sở cho đạo đức Phật
giáo và các nền đạo đức khác là ở nhân tính, nó là lương tâm của con người. ở
góc độ đạo đức mà nói, nếu như biết một hành động tuyệt đối tốt là chuyện rất
khó nhưng người ta không thể chối cãi được là có những hành động tuyệt đối
xấu. Điểm phân biệt ấy xuất phát từ cái tâm - cái tâm ở đây không phải là
"duy tâm" mà là cái đạo đức, cái lòng trắc ẩn của con người, còn cái tâm được
hình thành như thế nào lại là chuyện khác. Do vậy, cái tâm ấy là cái xuất phát
cho lời nói và hành động của từng cá nhân cụ thể và nói bao quát hơn như
F. Engels đã nhận xét "là không thể tránh được là tất cả những cái gì thúc đẩy
con người hoạt động đều phải thông qua đầu óc con người" [63, tr. 384].
Như vậy, có thể nói cái tâm là cơ sở quan trọng nếu như không phải là
cơ sở quan trọng nhất của đạo đức. Xuất phát từ cái đơn giản vĩ đại ấy, cho
nên: "Chính vì vậy đạo đức không phải là cái gì phức tạp, nó không đòi hỏi
một khả năng đặc biệt nào mà chung quy chỉ là thế này thôi: giành lại cái tâm
của mình - chỉ thế thôi nhưng cũng là mênh mông, bao la" [75, tr. 106].
Chính từ cái cơ sở không thể bỏ qua của đạo đức là cái tâm nên Mạnh
tử cho rằng, khi người ta mất con gà, con chó thì biết đi tìm kiếm, còn khi mất
cái tâm thì không biết đi tìm kiếm. Vì đạo đức được thể hiện rõ ràng trong
quan hệ giao tiếp trực tiếp giữa con người và con người, giữa con người và
con vật nên từ đó, lòng không nỡ của Mạnh tử đã gặp tình thương của J.
Rousseau (1712-1778) và các vị đều thấy rằng: Đó là tiếng kêu xao xuyến -
trỗi dậy và thương cảm - không ngừng thốt lên khắp nơi trên đời này, ở bất kỳ
địa điểm và thời gian nào, với bất kỳ ngôn ngữ nào, đó là tiếng kêu xao xuyến
trước những đe dọa người khác [75, tr. 123].
Như vậy, điểm xuất phát của đạo đức là lương tâm của con người. Từ
đó, có một điều cần nói thêm rằng, nếu không xuất phát từ cơ sở đó thì không
18
thể giải thích thỏa đáng được những hiện tượng, chẳng hạn tại sao trong hoàn
cảnh "miếng cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng" người ta lại có tình cảm đạo đức
tốt, còn khi đời sống vật chất phát triển đến tốc độ tên lửa vũ trụ thì đời sống
tâm linh chỉ là tốc độ của chiếc xe bò kéo.
Từ cơ sở thiết thực cho đạo đức là lương tâm của con người nên Phật
giáo chỉ thẳng cái điểm trực tiếp để xuất phát những hành vi đạo đức. Đó là,
lòng biết hổ thẹn. Đây cũng là một trong những tiêu chí để phân biệt giữa con
người và con vật. Mặt khác, vấn đề về hổ thẹn còn là điểm hẹn mà nhiều nền
đạo đức, nhiều quan niệm đạo đức đã gặp nhau, nói gần hơn là đạo đức Nho
giáo và Phật giáo, bởi vì hầu như các hệ thống đạo đức đều không thể bỏ qua
việc phải bàn đến nó. Hổ thẹn đối với quan niệm của Phật giáo là một thứ
không có hạnh phúc vì nó mang nợ, mà món nợ này xuất phát từ tâm. Phật
giáo cho những người không biết hổ thẹn, nhất là những người có ý thức mà
không biết hổ thẹn là "vô tàm" hay không có "tàm quý". Cả Nho giáo và Phật
giáo đều cho rằng, con người không có "tàm quý" thì không hơn gì súc vật.
Đức Phật đã nhiều lần đề cập đến vấn đề hổ thẹn ở những góc độ khác nhau
trong các bài giảng của Ngài. Ngay trong mối quan hệ giữa thân, khẩu, ý, để
tạo nghiệp, Phật đã thấy rõ cái nguy hại khi người ta không biết hổ thẹn từ
khẩu, vì nó là hành động trực tiếp từ tâm nên Ngài dạy La-hầu-la (Rãhula,
hiểu đơn giản là Ngài dạy con) rằng:
Đối với người nói dối không biết hổ thẹn, Như Lai nói,
không có điều tội lỗi xấu xa nào mà người ấy có thể không làm. Do
đó, La-hầu-la, con phải cố gắng lập tâm: dù trong lúc chơi đùa tôi
cũng không nói dối (chính xác là dù nói để mà chơi, nói bông đùa
thì cũng không nên nói dối - chúng tôi đính chính) [92, tr. 133].
Nói về việc biết hổ thẹn, ngay trong lời dạy cuối cùng của đức Phật,
Ngài cũng không quên đề cập nó thì cũng đủ thấy nó quan trọng như thế nào:
19
Sự hổ thẹn là phục sức đẹp nhất trong mọi thứ phục sức. Như
cái móc sắt, sự hổ thẹn có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của
con người. Thế nên các thầy Tỳ kheo, hãy luôn luôn biết hổ thẹn, sỉ
nhục, đừng bao giờ, dầu chỉ tạm thời mà thôi, được phép quên mất
đức tính ấy. Mất hổ thẹn là mất công đức. Có hổ thẹn là có thiện
pháp, không có hổ thẹn thì không khác gì cầm thú [26, tr. 124-125].
Tất cả những cơ sở như trên vừa đóng vai trò là nền tảng, vừa mở
đường cho hệ thống đạo đức của Phật giáo. Cũng như nhiều hệ thống đạo đức
khác, Phật giáo xây dựng hệ thống đạo đức nhằm mục tiêu là hạnh phúc cho
con người. Tuy nhiên, khác với một số tôn giáo, quan điểm của Phật giáo là
xây dựng hạnh phúc cho con người tại cõi đời này, đồng thời hạnh phúc cũng
chỉ là phương tiện chủ yếu để chúng sinh tự giải thoát. Từ đó, vấn đề cụ thể
và đặc điểm của đạo đức Phật giáo sẽ phải được bàn tiếp.
1.1.2. Vai trò của đạo đức Phật giáo trong tư tưởng Phật giáo
Qua việc nhận xét chung thì có một vấn đề quan trọng cần phải đặt ra
là: dù lý giải về vũ trụ, nhân sinh dài ngắn, cao thấp như thế nào thì rút cục,
các tư tưởng tôn giáo và triết học cũng không trốn tránh được việc phải trả lời
một câu hỏi lớn và thiết thực của toàn nhân loại. Đó là, con người khi chết có
phải là chết hẳn hay không? Đây là một câu hỏi nghiêm túc và nó còn thiết
thực hơn cả câu hỏi con người từ đâu đến.
Nhìn chung, có học thuyết trả lời là con người (cái "Ta") chết là chết
hẳn, chết thực sự, có học thuyết trả lời là không vì còn linh hồn bất tử. Tùy theo
sự trả lời câu hỏi trên mà các học thuyết có sự giải quyết khác nhau về đạo đức,
cũng như ý nghĩa đích thực của nhân sinh. Hầu hết các tôn giáo đều công nhận
có linh hồn bất tử và điều này đóng vai trò là sức mạnh để họ dựa vào đó làm
cơ sở trong việc giáo dục con người. Đó là điểm đáng chú ý với tôn giáo. Theo
quan điểm của Trung đạo, Phật trả lời câu hỏi trên là Không (con người không
20
chết hẳn mà cũng không không), từ cơ sở của huyễn hiện, huyễn diệt, nói
chung là huyễn hóa - "huyễn" (Mâyâ - ảo vọng, không có thực). Khi trả lời là
Không, toàn bộ giáo lý Phật giáo chủ yếu là nhằm vào con người cụ thể, chính
xác là biệt nghiệp của người đó. Con người cụ thể không thể trốn tránh, chia sẻ
cái nghiệp của mình cho người khác được, dù đó là những người hảo tâm với
mình, hoặc là ruột thịt của mình. Từ đó, cùng với sự lý giải về vũ trụ, nhân
sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của chúng để xây dựng một hệ thống đạo đức.
Từ cơ sở trên, giáo lý Phật giáo nhấn rất mạnh vào vấn đề đạo đức,
cho nên có thể gọi đó là một học thuyết về đạo đức. Như vậy, đạo đức là nền
tảng quan trọng và thiết thực trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Với tầm quan
trọng của đạo đức như thế nên đương thời đức Phật đã chỉ rõ: Mùi hương của
các loài hoa, hoa chiên đàn, hoa da-già-la, hoa mạc-ly không thể bay ngược
gió, chỉ có mùi hương của người đức hạnh chân chính, tuy ngược gió vẫn bay
khắp muôn phương [49, tr. 23].
Thâu tóm thì đạo đức Phật giáo dựa trên các phẩm phương tiện chủ
yếu và cụ thể trong sự nghiệp giải thoát. Đó là Giới (Sìla), Định (Samadhi),
Tuệ (Prajnâ) và trí tuệ cùng tột là Bát-nhã-ba-la-mật-da (Prajnâ pàramità)
được tượng trưng bằng con thuyền không đáy. Chúng được soi sáng bởi lý
Duyên khởi, Tứ Đế, nhân quả, luân hồi, vô thường, vô ngã v.v... Trong ba
phẩm cũng là ba môn học này thì Giới học được coi là môn học đầu tiên và
đạo đức chủ yếu nằm ở đây. Nội dung, vai trò và tính chất của giới trong đạo
đức Phật giáo có một số điểm cần quan tâm như sau:
Thứ nhất, các khái niệm cơ bản và sự hình thành của giới. Công bằng
mà nói, việc giữ Giới luật là tiêu chuẩn đầu tiên trong việc thực hành đạo đức
của tất cả các tôn giáo, trong việc thực hiện của tất cả các thể chế khác chứ
không riêng gì Phật giáo, cho nên chỗ khác nhau chỉ là tính chất và tên gọi
của nó mà thôi. Quan niệm và nội dung về giới của Phật giáo có khía cạnh