37 7678 2 10 20171207

  • 8 trang
  • file .pdf
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 33, Số 4 (2017) 47-54
Nghiên cứu mức độ sử dụng kế toán sáng tạo
tại các doanh nghiệp Việt Nam
Nguyễn Thị Hương Liên*, Đào Thị Ngân
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội,
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 2 tháng 8 năm 2017
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 10 năm 2017; Chấp nhận đăng ngày 07 tháng 12 năm 2017
Tóm tắt: Kế toán sáng tạo là một chủ đề nghiên cứu thu hút nhiều sự quan tâm vì nó liên quan đến
việc điều chỉnh số liệu kế toán thực tế theo cách ban điều hành mong muốn thông qua việc lợi
dụng các quy định kế toán hiện hành hoặc phớt lờ các quy định này. Bằng phương pháp tổng thuật
tài liệu và khảo sát các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất - kinh doanh trên địa bàn
Thành phố Hà Nội, nghiên cứu này đã làm rõ các thủ thuật phổ biến và động cơ thực hiện kế toán
sáng tạo, đồng thời đánh giá xu hướng và mức độ áp dụng kế toán sáng tạo tại các doanh nghiệp
Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy xu hướng áp dụng kế toán sáng tạo tại Việt Nam ngày càng
gia tăng, mức độ áp dụng kế toán sáng tạo phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, động cơ thực
hiện kế toán sáng tạo của doanh nghiệp chủ yếu nhằm mục đích tối ưu hóa lợi ích về thuế, tăng giá
trị công ty và hoàn thành kế hoạch được giao.
Từ khóa: Kế toán sáng tạo, xu hướng áp dụng, thủ thuật, động cơ thực hiện, mức độ áp dụng.
1. Giới thiệu  cách lợi dụng các các quy tắc kế toán hiện hành
hay phớt lờ một số quy tắc đó [2].
Xuất phát từ tính phức tạp và đa dạng của
Kế toán sáng tạo (KTST) được hiểu là việc
các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù trong doanh
sử dụng kiến thức kế toán để tác động đến số
nghiệp, mức độ tinh vi của các thủ thuật KTST
liệu báo cáo tài chính nhằm mục đích phản ánh
ngày càng gia tăng, vì vậy việc nghiên cứu các
tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của
thủ thuật và dấu hiệu nhận biết các hành vi
doanh nghiệp theo cách mà ban điều hành
KTST luôn là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm
mong muốn, thay vì trình bày trung thực các số
của các bên liên quan. Hussein và các cộng sự
liệu này, trong khuôn khổ pháp luật và các quy
(2013) trong một nghiên cứu về thực tiễn áp
tắc kế toán cho phép [1]. Khái niệm này đồng
dụng KTST đã chỉ ra sự khác biệt về động cơ
nhất với quan điểm của Naser (1992) rằng
thực hiện KTST giữa các công ty tư nhân và
KTST là việc chuyển hóa thông tin kế toán tài
công ty đại chúng [3]. Cụ thể, các công ty tư
chính từ số liệu thực tế phát sinh sang số liệu
nhân thường áp dụng KTST vì mục đích che
người lập báo cáo tài chính mong muốn bằng
giấu thu nhập và giảm nghĩa vụ thuế phải nộp.
Trong khi đó, các công ty đại chúng thường
_______ thực hiện KTST để thổi phồng giá cổ phiếu.
*
ĐT.: Tác giả liên hệ. 84-988797510. Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, các
Email: [email protected] hành vi KTST cần được kiểm soát chặt chẽ
https://doi.org/10.25073/2588-1108/vnueab.4118
47
48 N.T.H. Liên, Đ.T. Ngân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 33, Số 4 (2017) 47-54
nhằm đáp ứng yêu cầu về minh bạch và chất 2.1.1. Trì hoãn việc ghi giảm giá trị tài sản
lượng công bố thông tin. Thị trường chứng ngắn hạn
khoán tại Việt Nam đã và đang bước dần vào Nếu giá trị của tài sản bị giảm xuống dưới
giai đoạn ổn định, chất lượng thông tin báo cáo giá trị sổ sách, theo nguyên tắc thận trọng, kế
tài chính của các công ty niêm yết ngày càng toán phải ghi giảm tài sản về giá trị thực của nó.
được quan tâm, do đó, cần thiết phải đánh giá Tài sản ngắn hạn giảm xuống có ảnh hưởng tới
các báo cáo tài chính đó có sử dụng các thủ lợi nhuận bởi vì việc xóa sổ tài sản được tính
thuật KTST hay không. Mặt khác, nhiều kế trực tiếp vào chi phí. Vì vậy, việc trì hoãn ghi
toán viên trong các doanh nghiệp Việt Nam còn giảm tài sản là một cách để nhà quản trị làm
chưa hiểu rõ và đầy đủ về các hành vi KTST và tăng lợi nhuận.
tác động của KTST đến chất lượng thông tin 2.1.2. Ghi nhận thấp hơn khoản dự phòng
báo cáo tài chính. Do vậy, cần phải có các đối với nợ xấu
nghiên cứu về KTST ở cấp độ doanh nghiệp từ Nhà quản trị đánh giá các khoản mong đợi
góc nhìn của các nhà quản trị và kế toán viên. có thể thu được từ khách hàng và trích lập dự
Bằng phương pháp tổng thuật tài liệu và khảo phòng dựa trên ước tính tỷ lệ nợ phải thu khó
sát các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực sản đòi. Nếu nhà quản trị đánh giá thấp hơn giá trị
xuất - kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hà khoản dự phòng thì tài sản và thu nhập sẽ được
Nội, nghiên cứu này làm rõ các thủ thuật phổ đánh giá cao hơn.
biến và động cơ thực hiện KTST, đồng thời 2.1.3. Đẩy nhanh tiến độ ghi nhận doanh thu
đánh giá xu hướng và mức độ áp dụng KTST Nhà quản trị có thểđẩy nhanh tiến độ ghi
tại các doanh nghiệp Việt Nam. nhận doanh thu để hoàn thành chỉ tiêu báo cáo
thu nhập cho một giai đoạn nhất định. Việc ghi
nhận doanh thuquá mức là một trong những
2. Các thủ thuật kế toán sáng tạo
hình thức phổ biến nhất của điều chỉnh lợi
Đối với những tài sản được doanh nghiệp nhuận. Một số cảnh báo bao gồm khoản phải
sử dụng, vấn đề sở hữu và kiểm soát là tương thutăng vọt so với sự phát triển của doanh thu
đối đơn giản. Tuy nhiên, một số giao dịch đặc và sự gia tăng đáng kể kỳ thu tiền bình quân.
thù có thể gây khó khăn cho việc xác định 1.1.4. Trì hoãn việc ghi giảm giá trị tài sản
quyền kiểm soát tài sản đó. Ví dụ, đối với tài dài hạn
sản cho thuê tài chính thì người thuê hay người Việc đánh giá sự giảm giá của tài sản dài
cho thuê là người sở hữu và kiểm soát tài sản hạn luôn mang tính chủ quan, đặc biệt đối với
đó? Sự không rõ ràng trong vấn đề sở hữu tài tài sản vô hình như lợi thế thương mại. Vì thế,
sản của doanh nghiệp đã tạo nên nhiều luồng nhà quản trị có thể dùng phán đoán của mình để
phân tích kế toán khác nhau. Ví dụ, các giao trì hoãn việc ghi giảm giá tài sản trên bảng cân
dịch tương tự nhau có thể được báo cáo bằng đối kế toán và báo cáo thu nhập.
nhiều cách khác nhau, những tài sản quan trọng 2.1.5. Ghi nhận thấp hơn giá trị hao mòn tài
có thể bị để ngoài bảng cân đối kế toán mặc dù sản dài hạn
doanh nghiệp phải chịu nhiều rủi ro kinh tế từ Nhà quản trị ước tínhthời gian sử dụng hữu
việc sở hữu hoặc kiểm soát tài sản đó. ích để xác định thời gian tính khấu hao đối với
tài sản dài hạn.Nếu ước tính này là khả quan thì
2.1. Tài sản bị thổi phồng tài sản dài hạn và lợi nhuận sẽ được đánh giá
Tài sản bị thổi phồng có xu hướng ngày cao hơn, đặc biệt với các doanh nghiệp có giá
càng gia tăng khi nhà quản trị có ý định làm trị tài sản cố định lớn như ngành hàng không và
tăng thu nhập. Palepu và các cộng sự (2007) đã tiện ích công. Một sự so sánh giữa chính sách
tổng hợp các thủ thuật thổi phồng tài sản phổ của doanh nghiệp với doanh nghiệp cùng ngành
biến như sau [4]: có tài sản cơ bản và chiến lược tương tự sẽ giúp
N.T.H. Liên, Đ.T. Ngân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 33, Số 4 (2017) 47-54 49
nhà phân tích xác định tài sản có khả năng bị doanh của doanh nghiệp. Việc làm này một mặt
thổi phồng hay không. giúp doanh nghiệp có thể tránh khỏi những
khoản tổn thất, nhưng mặt khác nó lại tạo ra
2.3. Tài sản bị ghi nhận thấp hơn thực tế một kẽ hở cho chính doanh nghiệp đó trong
Tài sản bị ghi nhận thấp hơn thực tế khi nhà việc cố ý ghi tăng các khoản dự phòng để làm
quản trị có xu hướng muốn giảm lợi nhuận, cụ tăng chi phí, từ đó lợi nhuận sẽ giảm và thuế
thểkhi doanh nghiệp có khả năng sinh lời lớn và thu nhập phải nộp nhà nước cũng giảm theo.
nhà quản trị quyết định dự trữ một khoản lợi Nhà nước tạo một quy chế giúp doanh nghiệp
nhuận cho tương lai. Điều hòa thu nhậpcó thể có thể thoát khỏi tình trạng tài chính xấu nhưng
được thực hiện bằng việc đánh giá cao hơn chi đồng thời tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp thực
phí hiện tại hay đánh giá thấp hơn giá trị của tài hiện hành vi KTST để trốn thuế.
sản trong thời gian doanh nghiệp đang hoạt 2.3.3. Tài sản cho thuê tài chính chuyển
động sinh lời tốt. Schilit và Perlev (2010) cho ngoại bảng
rằng việc đánh giá thấp hơn tài sản và chi phí Để tiêu chuẩn hóa báo cáo đối vớicác giao
cũng có thể được thực hiện trong năm có kết dịch cho thuê, chuẩn mực kế toán Mỹ đã quy
quả kinh doanh đặc biệt tồi tệ, khi nhà quản trị định một giao dịch cho thuê tương đương với
quyết định làm sạch báo cáo bằng việc đánh giá mua sắm tài sản nếu thỏa mãn một trong những
thấp hơn khoản thu nhập trong giai đoạn hiện điều kiện sau: (1) Quyền sở hữu của tài sản
tại để tạo ra kết quả kinh doanh ấn tượng trong chuyển giao lại cho người thuê vào cuối thời
những năm tiếp theo. Đó chính là khái niệm hạn thuê; (2) Bên đi thuê lựa chọn việc mua tài
làm sạch báo cáo “big bath”. Các thủ thuật ghi sản với một mức giá được thỏa thuận vào cuối
nhận giá trị tài sản thấp hơn thực tế được Schilit thời hạn thuê; (3) Tài sản cho thuê lớn hơn hoặc
và Perlev (2010) tổng hợp bao gồm 5 trường bằng 75% đời sống hữu ích; và (4) Giá trị hiện
hợp chủ yếu sau [5]: tại của khoản tiền thuê lớn hơn hoặc bằng 90%
2.3.1. Tài sản ngắn hạn hoặc dài hạn bị ghi giá trị hợp lý của tài sản. Trong thực tế, mặc dù
giảm quá mức có các tiêu chuẩn ghi nhận cụ thể nói trên, vẫn
Nhà quản trị có khả năng ghi nhận cao hơn tồn tại cơ hội cho nhà quản trị chuyển đổi từ
mức giảm của tài sản ngắn hạn khi năm đó thuê tài chính sang thuê hoạt động, dẫn tới khả
doanh nghiệp có sức khỏe tài chính tốt hoặc năng đánh giá thấp hơn giá trị tài sản thuê, đặc
trong trường hợp doanh nghiệp bị suy kiệt. biệt với các tài sản chuyên dụng thường được
Bằng việc đánh giá cao hơn mức giảm của tài thuê của các hãng hàng không hay chuỗi buôn
sản ngắn hạn và đánh giá cao hơn khoản chi phí bán lẻ.
trong kỳ, nhà quản trị có thể hạ thấp chi phí 2.3.4. Ghi giảm các khoản nợ phải thu đã
trong tương lai và nâng cao lợi nhuận khi cần bán cho các tổ chức tài chính
thiết. Tài sản ngắn hạn bị ghi giảm quá mức xảy Theo nguyên tắc kế toán của Mỹ (SFAS
ra khi nhà quản trị thiếu sự lạc quan về tình 140), các khoản phải thu đã bán cho các tổ chức
hình của doanh nghiệp trong tương lai. tài chính được ghi giảm nếu bên bán nhượng lại
2.3.2. Các khoản dự phòng được ước tính quyền kiểm soát các khoản phải thu cho tổ chức
trích lập quá cao tài tài chính. Quyền kiểm soát bị từ bỏ nếu như
Để đảm bảo tình hình tài chính ổn định, các khoản phải thu nằm ngoài tầm kiểm soát
đồng thời bù đắp cho khoản tổn thất có thể xảy của bên bán, hay bên bán đã chuyển giao phần
ra, doanh nghiệp sẽ dự trù một khoản tổn thất lớn rủi ro cho bên mua và bên bán không có
để tính trước vào chi phí, đó là khoản dự phòng. cam kết mua lại các khoản phải thu đó. Ngược
Ví dụ như dự phòng giảm giá đầu tư tài chính, lại, nếu các rủi ro tín dụng vẫn thuộc về bên bán
dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm thì không được phép ghi giảm các khoản nợ
giá hàng tồn kho. Các khoản dự phòng này phải thu này trên báo cáo tài chính.
được tính vào chi phí và trừ vào kết quả kinh
50 N.T.H. Liên, Đ.T. Ngân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 33, Số 4 (2017) 47-54
2.3.5. Tài sản vô hình chủ yếu không được nghĩa về thuê hoạt động, nhà phân tích có thể
vốn hóa trình bày lại khoản thuê này dưới hình thức thuê
Trong kế toán, lợi ích kinh tế thu được từ tài chính, đảm bảo cam kết tài chính thật sự của
việc nghiên cứu và triển khai (R&D) được đánh doanh nghiệp và rủi ro sẽ phản ánh trên bảng
giá là không chắc chắn. Nghiên cứu một dự án cân đối kế toán và đảm bảo tính có thể so sánh
có thể sẽ không bao giờ đưa ra được một sản được với các doanh nghiệp khác có nghiệp vụ
phẩm mới như đã hứa hẹn, lợi ích kinh tế là tương đồng.
không khả thi, hoặc sản phẩm có thể bị lỗi thời 2.4.3. Nghĩa vụ về tiền lương và các khoản
bởi sự ra đời sản phẩm nghiên cứu của đối thủ phải trả sau khi người lao động nghỉ hưu bị ghi
cạnh tranh. Thông thường, quy định kế toán ở nhận thấp
các quốc gia yêu cầu chi phí R&D cần được Nhiều doanh nghiệp cam kết với nhân viên
hạch toán vào chi phí. Do vậy, nhà phân tích vềcác kế hoạch liên quan đến lợi ích hưu trí.
cần nỗ lực để điều chỉnh sai lệch liên quan đến Nguyên tắc kế toán yêu cầu nhà quản trị ước
việc vốn hóa chi phí R&D và điều chỉnh giá trị tính và báo cáo giá trị hiện tại của các cam kết
tài sản hữu hình dựa vào sự thành công của dự đối với nhân viên trong suốt thời gian họ làm
án R&D. cho doanh nghiệp. Nghĩa vụ này có thể bị ghi
nhận thấp hơn thực tế khi nhà quản trị thay đổi
2.4. Nợ phải trả bị ghi nhận thấp các ước tính kế toán có liên quan.
Các khoản nợ phải trả bị ghi nhận thấp khi
doanh nghiệp đang gặp khó khăn và nhà quản 3. Đánh giá xu hướng và mức độ áp dụng kế
trị muốn cho nhà đầu tư thấy được bức tranh lạc toán sáng tạo tại các doanh nghiệp Việt Nam
quan về các rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Palepu và các cộng sự (2007) cho rằng nợ phải Nhằm đánh giá xu hướng và mức độ áp
trả có thể bị ghi nhận thấp trong các điều kiện dụng KTST tại các doanh nghiệp Việt Nam,
cụ thể sau [4]: nghiên cứu thực hiện khảo sát thực trạng áp
2.4.1. Ghi nhận doanh thu quá mức dụng KTST tại các doanh nghiệp trên địa bàn
Khi tiền đã nhận được nhưng sản phẩm hay Thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ
dịch vụ chưa được cung cấp, doanh nghiệp lại tháng 3 đến tháng 5/2016, với tổng số 100
ghi nhận doanh thu trong khi bản chất đây là doanh nghiệp được lựa chọn khảo sát. Việc lựa
khoản nợ phải trả. Khoản nợ này phản ánh cam chọn doanh nghiệp khảo sát đảm bảo tính đa
kết của doanh nghiệp về việc cung cấp sản dạng của loại hình doanh nghiệp, gồm 44 công
phẩm, dịch vụ cho khách hàng và sẽ được xóa ty cổ phần, 43 công ty trách nhiệm hữu hạn, 11
bỏ khi hoàn thành. Doanh nghiệp sẽ ghi nhận doanh nghiệp nhà nước và 2 doanh nghiệp tư
doanh thu sớm trên cơ sở hóa đơn thu tiền nhân. Hai nhóm đối tượng được tập trung khảo
nhưng trước khi thực hiện cam kết về sản phẩm sát là ban điều hành và bộ phận kế toán vì đây
dịch vụ cho khách hàng, do vậy, lợi nhuận sẽ là các đối tượng trực tiếp liên quan đến việc áp
được đẩy lên cao hơn. dụng KTST tại doanh nghiệp.
2.4.2. Các khoản nợ phải trả dài hạn Bảng hỏi khảo sát được thiết kế gồm 07 câu
ngoại bảng hỏi điều tra thông tin cơ bản của doanh nghiệp
Tài sản thuê và các khoản nợ có thể được và đối tượng khảo sát, 13 câu hỏi đối với ban
loại trừ ra ngoài bảng cân đối kế toán nếu cấu điều hành và 12 câu hỏi cho bộ phận kế toán.
trúc giao dịch thuê phù hợp với định nghĩa kế Các câu hỏi khảo sát tập trung điều tra xu
toán vềthuê hoạt động. Doanh nghiệp có thể hướng áp dụng KTST, tần suất áp dụng, mục
hợp thức hóa giao dịch để tránh thể hiện các tài đíchsử dụng KTST và khả năng phát hiện báo
sản thuê và nghĩa vụ nợ phải trả về thuê tài cáo tài chính có sử dụng KTST. Tổng số phiếu
chính. Do vậy, đối với doanh nghiệp hợp thức phát ra là 200, số phiếu trả lời hợp lệ thu về là
hóa cấu trúc giao dịch thuê phù hợp với định 54 phiếu, chiếm tỷ lệ 27% do có nhiều phiếu để
N.T.H. Liên, Đ.T. Ngân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 33, Số 4 (2017) 47-54 51
trống một số nội dung không trả lời. Tỷ lệ trả khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2016 [6]. Theo
lời được đánh giá là thấp do các đối tượng trả đó, số công ty phải điều chỉnh giảm lợi nhuận
lời có tâm lý e ngại, thiếu cởi mở khi được hỏi sau kiểm toán nhiều hơn so với số công ty phải
trực diện về việc áp dụng KTST tại chính doanh điều chỉnh tăng lợi nhuận. Cụ thể, năm 2013 có
nghiệp của mình. 300 công ty niêm yết điều chỉnh giảm lợi
nhuận, cao gấp gần hai lần so với 179 công ty
3.1. Xu hướng áp dụng kế toán sáng tạo tại các
điều chỉnh tăng lợi nhuận, trong đó, đặc biệt là
doanh nghiệp Việt Nam
các công ty hoạt động trong các lĩnh vực xây
Trước hết, liên quan đến câu hỏi đánh giá dựng, bất động sản, thực phẩm và kim loại.
chung về xu hướng sử dụng KTST tại Việt Nam 3.2. Đánh giá tần suất thực hiện kế toán sáng tạo
trong giai đoạn gần đây, kết quả khảo sát cho
thấy trên 70% số người được hỏi cho rằng việc Do tính đa dạng và phức tạp của các nghiệp
sử dụng KTST hiện nay có dấu hiệu ngày càng vụ kinh tế thuộc các loại hình doanh nghiệp
tăng; 26% số người trả lời cho rằng mức độ sử khác nhau, việc áp dụng KTST có thể khác
dụng KTST hiện nay giữ ở mức cố định và chỉ nhau giữa các loại hình doanh nghiệp. Bảng 3
có một người (2%) cho rằng việc sử dụng tổng hợp kết quả khảo sát về tần suất áp dụng
KTST đang có xu hướng giảm. Điều này có thể KTST theo loại hình doanh nghiệp.
thấy rằng đa số nhà điều hành và kế toán viên Kết quả khảo sát cho thấy tại các công ty
của doanh nghiệp cho rằng việc áp dụng KTST TNHH, tỷ lệ sử dụng KTST thường xuyên là rất
đang trở nên ngày càng phổ biến ở Việt Nam. lớn (48%). Bên cạnh đó, nhóm các doanh
Bảng 2 tổng hợp kết quả khảo sát xu hướng áp nghiệp nhà nước cũng có mức độ sử dụng
dụng KTST tại các doanh nghiệp Việt Nam KTST không nhỏ. Tại sao các công ty này lại
hiện nay. có tỷ lệ cao như vậy? Động cơ thực hiện KTST
Kết quả khảo sát trên phù hợp với số liệu được tìm hiểu thông qua việc phân tích mục
thống kê của Vietstock về chênh lệch số liệu đích sử dụng KTST của từng loại hình doanh
báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của nghiệp nói trên.
các công ty niêm yết trên thị trường chứng
Bảng 1. Bảng tổng hợp đối tượng khảo sát
Đối tượng Số phiếu phát ra Số phiếu thu về Tỷ lệ trả lời
Ban điều hành 100 28 28%
Bộ phận kế toán 100 26 26%
Tổng 200 54 27%
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát.
Bảng 2. Kết quả khảo sát về xu hướng sử dụng KTST
Đánh giá Số phiếu trả lời Tỷ lệ (%)
Ngày càng giảm 1 2
Không thay đổi 14 26
Ngày càng tăng 38 70
Không xác định 1 2
Tổng 54 100
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát.
52 N.T.H. Liên, Đ.T. Ngân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 33, Số 4 (2017) 47-54
Bảng 3. Kết quả khảo sát tần suất áp dụng KTST theo loại hình doanh nghiệp
TNHH Cổ phần Nhà nước Khác
Tần suất
áp dụng KTST Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ
Số phiếu Số phiếu Số phiếu Số phiếu
(%) (%) (%) (%)
Thường xuyên 11 48 3 13 2 33 2 100
Nhiều 4 17 4 17 - - - -
Ít 2 9 9 3 3 50 - -
Chưa bao giờ 5 22 4 17 1 17 - -
Không xác định 1 4 3 13 - - - -
TỔNG 23 100 23 100 6 100 2 100
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát.
Theo kết quả khảo sát tại Bảng 4, phần lớn của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất
các công ty TNHH thường sử dụng KTST vì định. Thông thường, các công ty cổ phần thực
mục đích tối ưu hóa lợi ích về thuế cho công ty, hiện KTST nhằm cải thiện kết quả kinh doanh
ngoài ra còn để tăng tính cạnh tranh với các đối hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư, đẩy giá cổ
thủ trên thị trường. Đối với các công ty cổ phần, phiếu tăng, từ đó làm tăng giá trị doanh nghiệp.
thực tiễn áp dụng KTST ở mức thấp hơn, chủ Trong khi đó, động cơ áp dụng KTST của các
yếu vì mục đích làm tăng giá trị công ty và tối công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân chủ
ưu hóa lợi ích về thuế. Các doanh nghiệp nhà yếu nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp trong
nước cũng có tỷ lệ sử dụng KTST không nhỏ, kỳ. Mặt khác, cả hai loại hình doanh nghiệp này
chủ yếu phục vụ mục đích tối ưu hóa lợi ích về đều cần tiếp cận vốn ngân hàng nên các chỉ tiêu
thuế và đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trên báo cáo tài chính sẽ được điều chỉnh thông
nhiệm vụ. Theo Hussein và cộng sự (2013), qua áp dụng KTST cho phù hợp với các tiêu chí
động cơ thực hiện KTST phụ thuộc vào đặc thù cho vay của ngân hàng.
Bảng 4. Kết quả khảo sát mục đích sử dụng KTST của từng loại hình doanh nghiệp
Đơn vị tính: %
Mục đích sử dụng KTST TNHH Cổ phần Nhà nước
Tối ưu hóa lợi ích về thuế 50 30 6
Tăng giá trị công ty 19 23 8
Thu hút nhà đầu tư 16 17 31
Hoàn thành kế hoạch, chỉ tiêu 13 27 50
Mục đích khác 2 3 5
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát.
Tóm lại, hầu hết các loại hình doanh nghiệp ý rằng việc sử dụng KTST sẽ ảnh hưởng tới
đều áp dụng KTST nhưng ở các mức độ sử tương lai và các quyết định kinh doanh của
dụng khác nhau, trong đó công ty TNHH và doanh nghiệp. Đáng chú ý trong kết quả khảo
doanh nghiệp nhà nước có mức độ áp dụng sát là một tỷ lệ khá cao số người được hỏi
thường xuyên cao nhất, chủ yếu vì mục đích tối (54%) thuộc ban điều hành không xác định
ưu hóa lợi ích về thuế và đảm bảo hoàn thành được mức độ ảnh hưởng của KTST. Đây là một
chỉ tiêu kế hoạch được giao. thực tế đáng lo ngại khi ban giám đốc doanh
nghiệp chỉ tập trung vào các lợi ích ngắn hạn
3.3. Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của việc áp
(tăng giá cổ phiếu, giảm thuế phải nộp, hoàn
dụng kế toán sáng tạo
thành kế hoạch nhiệm vụ trong kỳ) mà chưa
Theo kết quả khảo sát, 32% số người trả lời quan tâm tới tác động tiêu cực của hành vi
thuộc ban điều hành và 35% kế toán viên đồng KTST trong dài hạn.