1 104 1 10 20170210

  • 11 trang
  • file .pdf
60 Khắc phục những bất cập của pháp luật Việt Nam...
KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ
ThS. Hoàng Lan Phương
Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV
Tóm tắt:
Hoạt động định giá tài sản trí tuệ (TSTT) ở Việt Nam diễn ra từ khá lâu trước khi Luật Sở
hữu trí tuệ (SHTT) ra đời năm 2005, song cho đến hiện nay việc định giá TSTT này vẫn
chưa tuân theo một chuẩn mực nào. Điều này xuất phát từ việc các văn bản pháp luật về
lĩnh vực này còn khá sơ sài và chồng chéo. Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
về định giá TSTT hầu như không điều chỉnh trực tiếp vấn đề định giá TSTT mà chỉ đề cập
tới các quy định mang tính chất nguyên tắc về cách thức tính toán (dựa trên sổ sách) của
tài sản vô hình - trong đó bao gồm các TSTT. Ngay cả các văn bản pháp lý chuyên ngành
về SHTT như Luật SHTT và các Nghị định hướng dẫn thi hành cũng chưa có một quy định
liên quan đến việc định giá TSTT. Để việc định giá TSTT ở Việt Nam trong thời gian tới
được đồng bộ thì cần có một văn bản pháp lý thống nhất khắc phục những bất cập của
pháp luật về định giá tài sản vô hình nói chung và TSTT nói riêng hiện nay là một điều tất
yếu.
I. DẪN NHẬP
Đối với các doanh nghiệp, TSTT đóng vai trò là thước đo hiệu quả kinh
doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương
lai. Việc định giá TSTT giúp các doanh nghiệp khẳng định được vị thế, uy
tín trên thị trường, đồng thời doanh nghiệp có thể tiến hành thương mại hóa
được các TSTT một cách thuận lợi. Tuy nhiên, việc định giá TSTT ở Việt
Nam còn chưa tuân theo một chuẩn mực nào. Điều này có thể thấy rõ khi
năm 1995, nhãn hiệu kem đánh răng “P/S” đã được định giá 5 triệu USD
trong thương vụ chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu của công ty Hóa
mỹ phẩm Phong Lan cho Tập đoàn Unilever của Anh - Hà Lan hay nhãn
hiệu kem đánh răng "Dạ Lan" của Tổ hợp Sơn Hải cũng được hãng Colgate
(Hoa Kỳ) định giá 3 triệu USD [1]. Song sau 14 năm, vào năm 2009, giá trị
của nhãn hiệu “TISCO” của công ty Gang thép Thái Nguyên chỉ được định
giá 39,5 tỷ đồng khi cổ phần hóa doanh nghiệp (chưa bằng 3% tổng giá trị
tài sản - 1084 tỷ đồng) [8]. Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp khi cổ phần
hóa cũng chưa thực sự chú trọng việc tính giá trị của các TSTT vào giá trị
của doanh nghiệp để cổ phần hóa như Kem Tràng Tiền hay Bánh tôm Hồ
Tây...
JSTPM Vol 1, No 2, 2012 61
Vấn đề định giá TSTT đã được nhiều nhà chuyên môn nước ngoài và Việt
Nam nghiên cứu. Có thể kể tới các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:
(1) Các bài viết về vai trò của định giá TSTT và các phương pháp định giá
TSTT như: Céline Lagrost, Donald Martin, Cyrille Dubois & Serge
Quazzotti, “Định giá TSTT: Làm thế nào để lựa chọn một phương pháp
định giá thích hợp”[11]; Daryl Martin & David Drews, “Kỹ thuật định giá
TSTT” [5]; John Turner, “Định giá TSTT, Kỹ thuật định giá: các tham số,
phương pháp và giới hạn” [2];
(2) Các bài viết về các tiêu chuẩn định giá TSTT của Hoa Kỳ như: Micheal
R. Annis & Brad L. Pursel, “Định giá TSTT theo các nguyên tắc được chấp
nhận chung (GAAP) của Hoa Kỳ và sự ảnh hưởng tới sự tranh chấp về
SHTT; Ian McClure, “Kiểm tra sự tăng trưởng kinh tế: Định giá, tài chính
và trao đổi TSTT” [9]; J. Timothy Cromley, “Các tiêu chuẩn định giá
TSTT” [6].
Định giá TSTT là một vấn đề khá mới ở Việt Nam song cũng đã có rất
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới lĩnh vực mới này:
(1) Các nghiên cứu về nhu cầu, mục đích và các phương pháp định giá
TSTT: Vũ An Khang, “Nhu cầu định giá TSTT và các vấn đề về tài chính,
kế toán có liên quan”; TS. Vũ Thị Hải Yến, “TSTT và các phương pháp
định giá TSTT trong hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp”.
(2) Các nghiên cứu về định giá TSTT khi cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà
nước: TS. Trần Văn Hải, ThS. Trần Điệp Thành, “Một số điểm cần chú ý
khi định giá TSTT của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa”; ThS.
Nguyễn Thị Tuyết, “Vai trò của TSTT và thực trạng nhận thức của doanh
nghiệp và các cơ quan tài phán Việt Nam về TSTT trong cổ phần hóa doanh
nghiệp”.
(3) Nghiên cứu về định giá TSTT khi góp vốn bằng TSTT của PGS.TS.
Trần Văn Nam, “Góp vốn bằng TSTT của doanh nghiệp Việt Nam: Thực
trạng và một số vấn đề tồn tại”.
Nguyên nhân dẫn đến việc định giá TSTT ở Việt Nam còn chưa theo một
tiêu chuẩn nào xuất phát từ những bất cập của pháp luật. Do đó, trong bài
viết, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật Việt
Nam về định giá TSTT và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật này để việc định giá TSTT sẽ được thống nhất hơn trong
thời gian tới.
62 Khắc phục những bất cập của pháp luật Việt Nam...
II. THỐNG NHẤT THUẬT NGỮ
Thuật ngữ TSTT được sử dụng trong bài viết là thuật ngữ chỉ các đối tượng của
quyền SHTT được bảo hộ và được phép chuyển giao theo quy định Luật SHTT
[10].
Khái niệm“định giá” có thể hiểu thông qua 2 khái niệm “định giá bất động
sản” và “định giá công nghệ”:
- Định giá bất động sản là hoạt động tư vấn, xác định giá của một bất
động sản cụ thể tại một thời điểm xác định (Khoản 9, Điều 4, Luật Kinh
doanh bất động sản năm 2006);
- Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ (Khoản 14,
Điều 3, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006).
Theo đó, định giá là việc đánh giá giá trị của tài sản tại một địa điểm, thời
điểm nhất định. Định giá là công việc tư vấn, định các mức giá cụ thể cho
từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch, mua bán tài sản đó
trên thị trường. Việc định giá tài sản là do các cá nhân, tổ chức là chủ sở
hữu tài sản tự thực hiện.
Khái niệm định giá không thể đồng nhất với khái niệm thẩm định giá. Theo
Khoản 2, Điều 4, Pháp lệnh giá 2002: “Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc
đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời
điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”. Với
quy định trên thẩm định giá được hiểu là việc xác định giá thị trường của tài
sản. Thẩm định giá là việc tìm ra giá cả của tài sản định bán trong một thị
trường. Công việc thẩm định giá thường do các thẩm định viên về giá thực
hiện theo tiêu chuẩn thẩm định giá do Nhà nước quy định.
Trong bài viết, thuật ngữ định giá TSTT được hiểu là việc đánh giá giá trị
của các TSTT tại một địa điểm, thời điểm nhất định.
III. PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ
1. Pháp luật quốc tế và nước ngoài về định giá tài sản trí tuệ
1.1. Pháp luật quốc tế về định giá tài sản trí tuệ
Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật quốc tế nào điều chỉnh việc định
giá TSTT vì vậy việc định giá TSTT vẫn chủ yếu được thực hiện theo
Hướng dẫn về định giá các tài sản vô hình số 4 do Hội đồng Định giá Quốc
tế (IVSC) công bố [12]. Hướng dẫn này được coi là một tài liệu tham khảo
mang tính hướng dẫn chung về định giá TSTT nói riêng và định giá tài sản
vô hình nói chung theo tiêu chuẩn quốc tế.
JSTPM Vol 1, No 2, 2012 63
1.2. Pháp luật của một số quốc gia về định giá tài sản trí tuệ
Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào
hướng dẫn về việc định giá TSTT nói riêng và định giá tài sản vô hình nói
riêng. Hiện nay ở Hoa Kỳ chỉ có một vài hướng dẫn của các Hiệp hội mang
tính chất tham khảo. Năm 2001, Hội đồng Tiêu chuẩn Tài chính Kế toán
công bố 2 thông báo về những tiêu chuẩn tài chính kế toán trong đó có quy
định về việc định giá tài sản vô hình, TSTT khi sáp nhập, hợp nhất doanh
nghiệp đó là: Thông báo số 141: Hợp nhất doanh nghiệp; Thông báo số 142:
Lợi thế thương mại và những tài sản vô hình khác [3]. Năm 2008, Hiệp hội
Định giá viên Hoa Kỳ đã ban hành “Tiêu chuẩn định giá doanh nghiệp”
trong đó Tiêu chuẩn IX quy định về việc định giá tài sản vô hình [7].
Pháp luật Trung Quốc hiện nay cũng chưa có một văn bản pháp luật quy
định riêng về định giá TSTT. Việc định giá TSTT hiện nay chủ yếu dựa vào
các tiêu chuẩn định giá tài sản vô hình được quy định trong Thông tư về
việc đưa ra các tiêu chuẩn định giá tài sản - tài sản vô hình của Bộ Tài chính
năm 2001 (sửa đổi năm 2008).
2. Pháp luật Việt Nam về định giá tài sản trí tuệ
Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật liên quan đến việc định giá
TSTT như: Luật thi hành án dân sự 2008, Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị
định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp, Chuẩn mực kế toán số 04 về tài sản cố định (TSCĐ) vô hình
ban hành và công bố theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001
của Bộ trưởng Bộ Tài chính (Chuẩn mực kế toán số 04), Thông tư
203/2009/TT-BTC quy định về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích
khấu hao TSCĐ (Thông tư 203/2009/TT-BTC), Thông tư 202/2011/TT-
BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực
hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần theo
quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP... Tuy nhiên, hệ thống pháp luật
Việt Nam về định giá TSTT vẫn còn khá sơ sài. Các văn bản pháp luật nêu
trên hầu như không điều chỉnh trực tiếp vấn đề định giá TSTT mà chỉ đề cập
tới các quy định mang tính chất nguyên tắc về cách thức tính toán (dựa trên
sổ sách) của tài sản vô hình - trong đó bao gồm các TSTT. Ngay cả Luật
SHTT năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và các Nghị định hướng
dẫn thi hành là những văn bản pháp lý chuyên ngành về SHTT cũng chưa có
một quy định nào quy định về việc định giá TSTT.
64 Khắc phục những bất cập của pháp luật Việt Nam...
IV. NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ
1. Việc sử dụng các thuật ngữ trong các văn bản pháp luật có liên quan
tới việc định giá các tài sản trí tuệ còn chưa thống nhất
Do được ban hành vào năm 2001 trước khi Luật SHTT ra đời nên Chuẩn
mực kế toán số 04 vẫn còn sử dụng các thuật ngữ cũ chưa thống nhất với
Luật SHTT khi liệt kê ra các TSTT: “bằng sáng chế, bản quyền, phần mềm
máy vi tính, nhãn hiệu hàng hóa” là TSTT do doanh nghiệp đầu tư sẽ được
coi là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp [4]. Thuật ngữ “bằng sáng chế” hay
chính xác hơn là “bằng độc quyền sáng chế” dùng để chỉ văn bằng bảo hộ
ghi nhận các thông tin về chủ sở hữu sáng chế, tên tác giả, đối tượng bảo hộ,
phạm vi bảo hộ và thời hạn bảo hộ nên “bằng độc quyền sáng chế” sẽ
không phải là một TSTT và nó cũng không là TSCĐ vô hình của doanh
nghiệp. Do vậy, những “sáng chế” được pháp luật bảo hộ mới là TSCĐ vô
hình chứ không phải là văn bằng bảo hộ ghi nhận những thông tin liên quan
đến sáng chế được bảo hộ. Ngoài ra, “phần mềm máy vi tính” hay chính
xác hơn là “phần mềm máy tính” không được coi là một trong những đối
tượng của quyền SHTT mà chỉ có “chương trình máy tính” là một trong
những đối tượng của quyền tác giả theo Khoản 1, Điều 22, Luật SHTT do
đó việc liệt kê ra “phần mềm máy tính” là một trong những TSTT theo như
Chuẩn mực kế toán 04 là chưa chuẩn xác.
Điểm b, Khoản 1, Điều 6, Thông tư 203/2009/TT-BTC có sử dụng thuật
ngữ “bằng sáng chế phát minh” là một trong những đối tượng của TSCĐ vô
hình. Tuy nhiên, trong Luật SHTT lại không tồn tại thuật ngữ này mà chỉ sử
dụng thuật ngữ “bằng độc quyền sáng chế”. Điều đáng nói là Thông tư
203/2009/TT-BTC được ban hành vào 20/10/2009 tức là sau khi ban hành
Luật SHTT sửa đổi, bổ sung vào 19/6/2009 mà vẫn sử dụng không đúng
thuật ngữ so với Luật SHTT. Hơn nữa như đã phân tích mà chỉ có “sáng
chế” được pháp luật bảo hộ là TSTT và là TSCĐ vô hình chứ không phải
“bằng sáng chế phát minh”. Ngoài ra, Thông tư này đã sử dụng thuật ngữ
“giống cây trồng” và “vật liệu nhân giống” để chỉ các đối tượng của quyền
đối với giống cây trồng là chưa chuẩn xác theo như quy định của Luật
SHTT vì đối tượng của quyền đối với giống cây trồng là “vật liệu nhân
giống” và “vật liệu thu hoạch”.
2. Mâu thuẫn trong việc coi tài sản trí tuệ nào là tài sản cố định vô hình
để định giá và tính vào giá trị của doanh nghiệp
Theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 04 thì chỉ có một số các đối tượng
của quyền SHTT mới được coi là TSCĐ vô hình như: sáng chế, quyền tác
giả, nhãn hiệu (trong trường hợp nhãn hiệu đó không phải được tạo ra từ nội
JSTPM Vol 1, No 2, 2012 65
bộ doanh nghiệp như nhãn hiệu đó được mua lại, góp vốn…). Nhưng trong
Thông tư 203/2009/TT-BTC tại Khoản 2, Điều 4 quy định tất cả các đối
tượng của quyền SHTT đều được coi là TSCĐ vô hình và từ đó là cơ sở để
định giá và tính vào giá trị của doanh nghiệp.
Điểm b, Khoản 1, Điều 6 của Thông tư 203/2009/TT-BTC đã coi“chỉ dẫn
địa lý” là một loại TSCĐ vô hình của doanh nghiệp đã mâu thuẫn với quy
định tại Khoản 4, Điều 121 của Luật SHTT: “chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của
Việt Nam là Nhà nước”. Do đó, không thể coi “chỉ dẫn địa lý” là một loại
TSCĐ vô hình của doanh nghiệp được.
“Thương hiệu” có được là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp hay không vẫn
còn mâu thuẫn. Theo quy định của Điểm a, Khoản 7, Điều 18 của Thông tư
202/2011/TT-BTC thì giá trị của “thương hiệu” (bao gồm “nhãn hiệu” và
“tên thương mại”) được tính vào giá trị của doanh nghiệp khi cổ phần hóa.
Tuy nhiên, trong Chuẩn mực kế toán số 04 lại không quy định “thương
hiệu” là TSCĐ để được định giá và tính vào giá trị doanh nghiệp.
3. Quy định về chủ thể định giá tài sản trí tuệ còn chưa thực sự hợp lý
Theo Điều 30, Luật Doanh nghiệp thì TSTT là một trong những loại tài sản
có thể góp vốn vào doanh nghiệp và nêu ra chủ thể có quyền định giá TSTT
góp vốn:
+ Khi góp vốn để thành lập doanh nghiệp, TSTT được góp vốn phải được các
thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí (100% phiếu
thuận).
Với quy định tại Khoản 2, Điều 30, Luật Doanh nghiệp thì các thành viên/cổ
đông sáng lập nên doanh nghiệp sẽ là những người trực tiếp định giá TSTT.
Việc định giá trên có thể không phụ thuộc vào một tính toán cụ thể dựa trên
các yếu tố thị trường, chi phí hay lợi nhuận của TSTT đó. Do đó, sẽ dẫn tới
2 trường hợp:
Trường hợp 1: TSTT được định giá thấp hơn so với giá trị thực tế tại thời
điểm góp vốn.
Trường hợp 2: TSTT được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời
điểm góp vốn.
+ Khi doanh nghiệp đã hoạt động, việc định giá TSTT sẽ do doanh nghiệp
và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên
nghiệp định giá.
Khoản 3, Điều 30, Luật Doanh nghiệp quy định về chế tài đối với người góp
vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm khi việc định giá cao hơn giá trị thực
66 Khắc phục những bất cập của pháp luật Việt Nam...
tế tại thời điểm góp vốn. Chế tài này được thực hiện đối với các khoản nợ và
các nghĩa vụ tài chính khi doanh nghiệp thua lỗ hoặc phá sản. Tuy nhiên quy
định trên cũng không quy định rõ trường hợp nào “người góp vốn và người
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, trường hợp nào “tổ chức định
giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” phải liên đới chịu
trách nhiệm? Khi nào mà cả 3 chủ thể trên đều phải liên đới chịu trách
nhiệm?
4. Bất cập trong việc sử dụng phương pháp định giá tài sản trí tuệ
Khoản 2, Điều 4 của Thông tư 203/2009/TT-BTC quy định về việc xác định
nguyên giá TSCĐ vô hình: “Nguyên giá của TSCĐ vô hình là quyền tác giả,
quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Luật SHTT
là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra” (Điểm e).
“Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định là toàn
bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có các chương trình
phần mềm” (Điểm g).
Như vậy, theo quy định của Thông tư 203/2009/TT-BTC thì việc xác định
giá của TSTT là theo phương pháp định giá dựa trên chi phí quá khứ.
Thông tư 202/2011/TT-BTC quy định việc xác định giá trị “thương hiệu” là
để góp phần xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp khi định giá doanh
nghiệp thực hiện cổ phần hóa: “Giá trị thương hiệu được xác định trên cơ
sở các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương
mại trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp trước thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp...”.
Như vậy, theo quy định của Thông tư 202/2011/TT-BTC thì mới chỉ đưa ra
cách tính giá trị của “thương hiệu” dựa trên giá trị của “nhãn hiệu” và “tên
thương mại”, và cũng dựa trên phương pháp chi phí quá khứ.
Có thể thấy rằng, theo các quy định của pháp luật thì phương pháp để định
giá TSTT ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là dựa trên phương pháp chi phí quá
khứ. Ưu điểm của phương pháp này là làm cho TSTT xuất hiện trong sổ
sách kế toán của doanh nghiệp với tư cách là một tài sản được hạch toán, do
đó góp phần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về giá trị kinh tế của
TSTT. Tuy nhiên, phương pháp chi phí lại bộc lộ khá nhiều nhược điểm
khiến cho phương pháp này không được áp dụng phổ biến trong thực tiễn
định giá TSTT. Nhược điểm lớn nhất là chỉ sử dụng một yếu tố (yếu tố chi
phí) để xác định giá trị của TSTT và hoàn toàn không xem xét tới lợi ích
kinh tế tương lai mà TSTT đó có khả năng mang lại. Do đó, việc định giá
TSTT chỉ dựa vào các chi phí trong quá khứ để tạo ra/phát triển TSTT là
chưa thực sự đánh giá được tiềm năng kinh tế tương lai của TSTT đó.
JSTPM Vol 1, No 2, 2012 67
V. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ
Bản chất của việc định giá TSTT là sự thỏa thuận về giá trị của TSTT giữa
hai bên chủ thể tham gia định giá và là quan hệ dân sự/kinh tế do đó pháp
luật không thể can thiệp quá sâu vào việc định giá song Nhà nước cần phải
đưa ra được những quy định về định giá TSTT để hướng dẫn thực hiện việc
định giá TSTT. Một Nghị định của Chính phủ quy định về việc định giá
TSTT không chỉ giải quyết được những mâu thuẫn và bất cập trong các văn
bản về định giá TSTT mà còn là chuẩn mực để việc định giá TSTT trong
thời gian tới được đồng bộ hơn. Đối tượng điều chỉnh của Nghị định này là
những loại TSTT được pháp luật về SHTT bảo hộ và có thể chuyển giao
được trong các giao dịch dân sự. Sau đây, tác giả xin đưa ra những kiến nghị
để hoàn thiện các quy định pháp luật về định giá TSTT:
1. Quy định về các loại tài sản trí tuệ không được định giá
1.1. Các tài sản trí tuệ không được phép định giá khi chuyển nhượng
quyền sở hữu tài sản trí tuệ
- Chỉ dẫn địa lý: chỉ dẫn địa lý thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt
Nam và không thể chuyển nhượng quyền sở hữu.
- Tên thương mại: không được định giá nếu việc chuyển nhượng tên
thương mại đó không đi kèm với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động
kinh doanh dưới tên thương mại đó.
1.2. Các tài sản trí tuệ không được phép định giá khi chuyển quyền sử
dụng tài sản trí tuệ
- Chỉ dẫn địa lý: vì quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không thể chuyển giao;
- Tên thương mại: vì quyền sử dụng tên thương mại không thể chuyển
giao;
- Nhãn hiệu tập thể (trong trường hợp định giá nhãn hiệu tập thể nhằm
mục đích chuyển quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân không phải là
thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó).
1.3. Các tài sản trí tuệ không được phép định giá khi nhượng quyền thương
mại
Bản chất của nhượng quyền thương mại là bên nhượng quyền cho phép bên
nhận quyền sử dụng “quyền thương mại” của mình trong kinh doanh. Theo
quy định của Khoản 1, Điều 284, Luật Thương mại, khi nhượng quyền
thương mại thì chỉ có các TSTT như nhãn hiệu, tên thương mại và bí mật