• 19 trang
  • file .pdf
Áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị
quyề n sở hữu trí tuê ̣ ở Viê ̣t Nam
Phạm Đức Quảng
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu và làm rõ các quy định về góp vốn bằng giá trị quyền sở
hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đưa ra những phân tích và đánh
giá những điểm chưa phù hợp và những vấn đề bất cập trong việc góp vốn bằng
giá trị quyền sở hữu trí tuệ. Đề xuất những kiến nghị, giải pháp phù hợp để giải
quyết những bất cập trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
Keywords: Quyền sở hữu trí tuệ; Luật kinh tế; Góp vốn; Pháp luật Việt Nam
Content
1. Tính cấp thiết của luận văn
Góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ không phải là một hiê ̣n tươ ̣ng kinh tế mới,
tuy nhiên các vấ n đề pháp lý như góp như thế nào , định giá như thế nào, cơ chế bảo đảm
giá trị góp vốn và ngay cả việc thống nhất những nội dung nêu trên giữa các cơ quan
quản lý nhà nước cũng đang đặt ra không ít vấn đề cần giải quyết.
Hiện nay, việc góp vốn thành lập doanh nghiệp đã trở nên phổ biến trong xã hội.
Người ta có thể góp vốn bằng tiền, vàng, công sức và bằng cả giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
Những nội dung nêu trên đã được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp, Luật sở hữu trí tuệ
và là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định sự phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.
Tuy nhiên , việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang gặp
những vướng mắc không nhỏ mà nguyên nhân do thiế u sự thống nhất khi thực thi pháp
luật trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi nhiều văn bản luật
thừa nhận việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ, một số văn bản hướng dẫn thực
hiện lại không thừa nhận nội dung trên.
Từ những cơ sở lý luận thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật về
góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” với mong muốn đưa ra một cái
nhìn đầy đủ, toàn diện hơn và góp phần nâng cao hơn nữa việc thực thi pháp luật liên
quan đến hoạt động góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu viê ̣c góp vố n bằ ng giá tri ̣quyề n sở hữu trí tuê ̣ thông
qua phân tích, đánh giá khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ và giá trị quyền sở hữu trí tuệ ,
khái niệm về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ , các quy định pháp luật về góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ và thực tiễn vấn đề áp dụng pháp luật trong việc góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, đặc biệt xem xét trong mối quan hệ giữa các
cơ quan hữu quan.
- Phạm vi nghiên cứu:
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm nhiều nội dung khác nhau, để đảm bảo phân tích, đánh
giá sâu sắc và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích
các quy định liên quan đến việc góp vốn bằng nhãn hiệu – đối tượng góp vốn chủ yếu
hiện nay. Việc góp vốn được giới hạn trong phạm vi góp vốn thành lập doanh nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra cái nhìn tổng thể và giải pháp phù hợp để đảm bảo tính minh bạch, thống nhất
và hiệu quả khi áp dụng pháp luật trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu và làm rõ các quy định về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
+ Đưa ra những phân tích và đánh giá những điểm chưa phù hợp và những vấn
đề bất cập trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
+ Đề xuất những kiến nghị, giải pháp phù hợp để giải quyết những bất cập trong
vấn đề trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong đó lấy
phương pháp luâ ̣n duy vật biện chứng làm nề n tảng . Trên cơ sở các dữ liê ̣u thố ng kê, tác
giả đã tổng hợp , phân tić h, so sánh, đánh giá làm nổ i bâ ̣t thực tra ̣ng góp vố n bằ ng giá tri ̣
quyề n sở hữu trí tuê ̣ ta ̣i Viê ̣t Nam, chỉ ra những mâu thuẫn , bấ t câ ̣p và đề xuấ t phương án
giải quyết nhằm hoàn thiện cá c quy đinh
̣ pháp luâ ̣t về góp vố n bằ ng giá tri ̣quyề n sở hữu
trí tuệ tại Việt Nam
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ thành lập công
ty ở Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí
tuệ.
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ Sở hữu trí tuệ và Quyền sở hữu trí tuệ
được chính thức sử dụng từ Bộ luật dân sự năm 1995 và các đạo luật được ban hành sau đó.
Mặc dù không được định nghĩa trực tiếp song cấu trúc và nội dung phần thứ 6 Bộ luật dân sự
cho thấ y: Quyền sở hữu trí tuệ là một chế định pháp lý gồm quyền tác giả và quyền sở hữu
công nghiệp được pháp luật quy định và bảo hộ. Đó là một loại hình quyền sở hữu đặc biệt
mà đối tượng là các sản phẩm sáng tạo do lao động trí óc con người tạo ra, là sản phẩm trí
tuệ con người. Bộ luật dân sự năm 2005 đã bổ sung thêm đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
là quyền đối với giống cây trồng.
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đưa ra khái niệm : Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của
tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
1.1.2. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng là một loại
quyền tài sản, do đó nó có đầy đủ đặc tính của quyền tài sản nói chung đó là : chủ sở hữu
có toàn quyền đối với tài sản của mình và không ai được sử dụng tài sản đó nếu không
được sự cho phép của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất đặc thù của các đối
tượng sở hữu công nghiệp – tài sản trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp có những đặc điểm
riêng để phân biệt với quyền sở hữu khác, thậm trí với cả quyền tác giả.
Thứ nhất, tính vô hình của đối tượng sở hữu công nghiệp
Thứ hai, phạm vi bảo hộ
Thứ ba, quyền sử dụng
1.2. Khái quát chung về việc góp thành lập doanh nghiệp
1.2.1. Góp vốn
Theo quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 khái niệm “góp vốn”
được hiểu là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu
chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,
vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật,
các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công
ty.
1.2.2 Đối tượng góp vốn
Các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp :
2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp
tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài
sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình;
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu
nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh
doanh;
g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.
1.3. Quy định về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
1.3.1. Điều kiện để góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay, có khá nhiều quan điểm liên quan đến điều kiện để góp vốn bằng giá
trị quyền sở hữu trí tuệ. Bởi lẽ, quyền sở hữu trí tuệ là một khái niệm quyền tài sản vô
hình. Do đó, cần xác định rõ tiêu chí để từ đó có thể đánh giá được giá trị quyền sở hữu
trí tuệ, hay nói cách khác là cần phải vật chất hóa loại quyền này để có thể dễ dàng định
giá và sử dụng trong việc góp vốn.
viê ̣c quy đinh
̣ đố i tươ ̣ng quyề n sở hữu trí tuê ̣ cầ n có chứng nhâ ̣n của cơ quan nhà
nước có thẩ m quyề n để góp vố n thành lâ ̣p công ty cầ n phải đươ ̣c nhin
̀ nhâ ̣n theo cả 2 khía
cạnh khác nhau:
Thứ nhấ t , đố i với những đố i tươ ̣ng sở hữu trí tuê ̣ mà pháp luâ ̣ t quy đinh
̣ có thể đươ ̣c
cấ p “giấ y chứng nhâ ̣n” (ví dụ Nhãn hiệu hàng hóa , kiể u dáng công nghiê ̣p , bản quyền tác
giả, …) thì yêu cầu chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải đăng ký với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền , đố i tượng góp vốn cần được cụ thể hóa dưới dạng thức văn bản , có sự
thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, đố i với những đố i tươ ̣ng sở hữu trí tuê ̣ mà pháp luâ ̣t không có quy đinh
̣ về
viê ̣c cấ p “giấ y chứng nhâ ̣n” (ví dụ thươ ng hiê ̣u nổ i tiế ng , bí mật thương mại , …) thì
không yêu cầ u chủ sở hữu quyề n sở hữu trí tuê ̣ phải xuấ t trin
̀ h giấ y chứng nhâ ̣n khi góp
vố n thành lâ ̣p công ty . Viê ̣c góp vố n trong trường hơ ̣p này hoàn toàn do thỏa thuâ ̣n của
bên góp vốn và bên nhận góp vốn, thỏa thuận này cần được lập thành văn bản.
1.3.2. Thủ tục góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Quy định về thủ tục góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật
Việt Nam hiện tại chưa rõ ràng, chưa có văn bản cụ thể . Mô ̣t số văn bản dự thảo cho viê ̣c
góp vốn bằng thương hiệu (góp vốn bằng nhãn hiệu ) sau nhiề u lầ n lấ y ý kiế n , cho đến
thời điểm kết thúc luận văn này vẫn chưa đươ ̣c thông qua . Tuy nhiên, xem xét quyền sở
hữu trí tuệ với tư cách là một loại quyền tài sản thì việc góp vốn bằng giá trị quyền sở
hữu trí tuệ cũng không nằm ngoài các quy định về thủ tục góp vốn được quy định trong
Luật doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, do đặc thù của tài sản quyền sở hữu trí tuệ là một
loại tài sản vô hình nên khi góp vốn các bên góp vốn và nhận góp vốn cần làm rõ những
nội dung cơ bản sau :
- Xác định rõ đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đem góp vốn (Ví dụ Bản quyền,
nhãn hiệu hàng hóa/ dịch vụ, kiểu dáng công nghiệp, ...).
- Thống nhất cách thức định giá (xác định giá trị) của đối tượng góp vốn.
- Lập hợp đồng góp vốn quy định rõ nội dung liên quan đến việc góp vốn bằng giá trị
quyền sở hữu trí tuệ, các quyền và nghĩa vụ của bên chuyển giao và doanh nghiệp với tư
cách là người nhận chuyển giao các quyền sở hữu công nghiệp.
Thứ nhất, xem xét đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đem góp vốn
Khi làm thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn bổ sung vào công
ty, góp vốn mua cổ phần, bên góp vốn và bên nhận góp vốn cần xác định rõ ràng, cụ thể
về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được đem góp vốn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc xác định giá trị của quyền đem góp vốn, cũng như xác định rõ quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia góp vốn.
Thứ 2, thống nhất cách thức định giá và xác định giá trị của quyền sở hữu
trí tuệ đem góp vốn
Việc xác định giá trị tài sản góp vốn đối với quyền sở hữu trí tuệ hiện đang gây
ra rất nhiều tranh cãi trong thực tiễn, bởi lẽ, quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô
hình, thường không có hàng hóa tương tự hoặc dễ thay thế như các sản phẩm hữu hình
được sản xuất hàng loạt khác.
Thứ ba, việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ phải được lập thành
hợp đồng góp vốn
Việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ đồng nghĩa với việc người góp
vốn đã chuyển giao quyền tài sản (hoặc một phần quyền tài sản) cho bên nhận góp vốn
nhưng không chuyển giao quyền nhân thân cho bên nhận góp vốn.
Đối với việc góp vốn bằng Nhãn hiệu hàng hóa/ dịch vụ cũng phải tuân theo
nguyên tắc trên. Người góp vốn sẽ sử dụng giá trị quyền sử dụng Nhãn hiệu để đem góp
vốn mà không chuyển giao, không làm thay đổi chủ sở hữu trên giấy chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Chính bởi việc chuyển giao „„không hoàn toàn‟‟ nêu trên mà các bên cần lập Hợp
đồng góp vốn quy định rõ ràng , đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia góp
vốn. Hơ ̣p đồ ng góp vố n đươ ̣c coi như là mô ̣t phầ n trong hơ ̣p đồ ng thành lâ ̣p công ty , về
hình thức có thể được gọi là phụ lục, biên bản, thỏa thuận góp vốn, …
Nội dung cơ bản của Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ gồm
có :
- Thông tin về bên nhận góp vốn
- Thông tin về bên góp vốn
- Đối tượng đem góp vốn (Luận văn giới hạn ở việc góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng Nhãn hiệu)
- Quyền và nghĩa vụ của bên nhận góp vốn
- Quyền và nghĩa vụ của bên góp vốn
- Giá trị của hợp đồng góp vốn (Liên quan đến tỷ lệ góp vốn)
- Phương thức thanh toán theo hợp đồng
- Thời hạn của hợp đồng góp vốn
- Điều kiện chuyển giao
- Điều kiện chấm dứt hợp đồng
- Giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn
Quy định về việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản tại Luật Doanh nghiệp 2005
rõ ràng không thể áp dụng hoàn toàn với việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ .
Bởi lẽ, chủ nhân của quyền sở hữu trí tuệ có thể cùng một lúc sở hữu 02 quyền, đó là
Quyền nhân thân và quyền tài sản (ví dụ quyền tác giả). Thực tế, họ chỉ góp vốn bằng giá
trị của quyền tài sản nên quyền sở hữu không được chuyển giao hoàn toàn, mà chỉ
chuyển giao một số quyền tài sản riêng rẽ, ví dụ cấp quyền sử dụng nhãn hiệu hoặc sáng
chế. Đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa góp vốn bằng tài sản thông thường và góp
vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
Trong trường hợp này, bên góp vốn và bên nhận góp vốn sẽ lập biên bản giao
nhận tài sản (thực chất là giao nhận quyền sở hữu khai thác một số quyền từ Cu ̣c hữu trí
tuệ), biên bản định giá tài sản góp vốn và Hợp đồng góp vốn. Đây là cơ sở pháp lý để xác
định việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ khi góp vốn vào công ty.
Thứ năm, đăng ký việc góp vốn trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp theo
quy định chung của Luật doanh nghiệp
Sau khi hoàn thiện các bước đã nêu ở trên, bên nhận góp vốn và bên góp vốn
cùng đệ trình hồ sơ góp vốn thành lập doanh nghiệp lên cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
Chương 2
THỰC TIỄN VIỆC GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM
2.1. Thực tiễn việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
2.1.1. Sự cần thiết góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư
Góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ không phải là một vấn đề mới và
đang diễn ra trong thực tiễn. Mặc dù vậy nhiều văn bản pháp luật của nhà nước hiện
chưa có cái nhìn thống nhất về vấn đề trên.
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình có giá trị rất lớn. Song để đánh
giá được giá trị thực sự của tài sản này và khai thác một cách hợp lý thì mỗi cá nhân, cơ
quan, đơn vị lại có cái nhìn không giống nhau.
Thực tế cho thấ y giá tri ̣tài sản vô hình trong doanh nghiê ̣p ngày càng chiế m tỷ lê ̣ cao
trong tổ ng giá tri ̣tài sản của doanh nghiê ̣p . Theo số liệu của Liên đoàn quốc tế các nhà kế
toán (IFAC), năm 1998, từ 50-90% giá trị do một công ty tạo ra là nhờ vào việc quản trị
các tài sản vô hình. Như vậy, việc quản trị các tài sản hữu hình chỉ tạo ra từ 10-50% giá
trị. Sự chênh lệch này sẽ tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế tri thức ngày càng trở thành một
thực tế khách quan. Nếu trong những năm 70 tương quan giữa giá trị sổ sách (căn cứ vào
bảng cân đối tài sản) và giá trị thị trường ( căn cứ vào giá cổ phiếu) của một công ty là
1/1, thì hiện nay tương quan đó là 1/6 [13].
Không thể phủ nhận giá trị của tài sản vô hình, song làm thế nào để khai thác được
giá trị của tài sản vô hình nói chung và tài sản sở hữu trí tuệ nói riêng trong bối cảnh văn
bản pháp luật quy định chưa rõ ràng lại là vấn đề hết sức bức thiết trong giai đoạn hiện
nay.
Căn cứ vào những phân tích trên đây, có thể thấy việc góp vốn bằng giá trị quyền
sở hữu trí tuệ vẫn đang diễn ra dù bằng cách này hay cách khác. Thực tiễn đó đòi hỏi các
cơ quan Nhà nước phải sớm đưa ra quy định thống nhất để điều chỉnh quan hệ góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.2. Sự thừa nhận của các cơ quan hữu quan trong vấn đề góp vốn bằng
giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là quan tâm của khối các doanh
nghiệp, tổ chức/ cá nhân góp vốn mà còn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cơ quan
của Đảng, Chính phủ.
Trong văn kiện Đại hội XI của Đảng , phần về chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2011 – 2020 một lần nữa khẳng định: “Hình thành hệ thống đánh giá kết quả, hiệu quả
hoạt động khoa học và công nghệ. Thực hiện nghiêm túc các quy định về quyền sở hữu trí
tuệ, tập trung phát triển và khai thác tài sản trí tuệ. Mở rộng và nâng cao hệ thống tiêu
chuẩn, quy chuẩn đạt chuẩn mực quốc tế”.
Chủ trương và chính sách nêu trên là phù hợp với xu thế phát triển chung của đất
nước nói chung, của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập nói riêng, đáp ứng nguyện vọng của
đông đảo doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nghiên cứu hiện nay.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và sự thừa nhận của các cơ quan hữu quan, đây là cơ sở
quan trọng để xây dựng và ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh đầy đủ
và toàn diện việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
2.2. Thực trạng ban hành văn bản pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền
sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
2.2.1. Các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị
quyền Sở hữu trí tuệ
Hiện nay, việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu được điều chỉnh
bởi Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Bên cạnh đó có một số văn
bản hướng dẫn thực hiện những luật trên và văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà
nước trong quá trình thực hiện.
Đúng như phạm vi nghiên cứu của đề tài và phù hợp với tên đề tài, việc góp vốn
được giới hạn trong phạm vi góp vốn thành lập doanh nghiệp, do đó đương nhiên được
điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp 2005 quy định hình thức góp vốn,
loại tài sản góp vốn, điều kiện tham gia góp vốn. Bên cạnh đó Luật sở hữu trí tuệ quy
định về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, nhãn hiệu nói riêng, việc khai thác thương mại
các quyền này cũng như những đảm bảo đối với chủ thể quyền.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã xuất hiện nhiều bất cập nảy
sinh, cũng như đảm bảo chi tiết quá trình thực thi văn bản pháp luật, đã có nhiều văn bản
hướng dẫn liên quan đến việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ được ban hành
bởi cơ quan quản lý nhà nước. Các văn bản này tùy theo tính chất, mức độ và nội dung
sự việc đã có phạm vi và đối tượng điều chỉnh khác nhau. Cũng có lẽ bởi vậy mà các
cơ quan quản lý Nhà nước không tránh khỏi những tranh chấp, bất cập trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ trên thực tế.
Theo trình tự thời gian, có thể kể ra những văn bản điều chỉnh việc góp vốn bằng
giá trị quyền sở hữu trí tuệ như :
- Bộ luật dân sự năm 2005
- Luật doanh nghiệp năm 2005
- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
- Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp
- Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn luật sở hữu trí tuệ
- Các văn bản, Công văn hướng dẫn của Bộ tài chính, Tổng cục thuế về thực hiện
góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
- Và gần đây nhất là dự thảo thông tư của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện góp
vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu
Nhìn chung, dù có số lượng văn bản lớn, song những văn bản nêu trên lại chứa
đựng nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các văn bản luật và văn bản dưới luật.
Nói cách khác, quá trình vận dụng và áp dụng pháp luật liên quan đến việc góp vốn bằng
giá trị quyền sở hữu trí tuệ đang tồn tại rất nhều bất cập cần giải quyết.
2.2.2. Những mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật trong việc quy định về
góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định tại Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì : Tài sản góp vốn có
thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị
quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ
công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.
Rõ ràng, Luật doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ đã thừa nhận việc góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc
biệt là các công văn do cơ quan thuế ban hành lại không thừa nhận việc góp vốn bằng giá
trị quyền sở hữu trí tuệ. Tại công văn số 3539/TCT-PCCS ngày 20 tháng 9 năm 2006 của
Tổng cục thuế trả lời Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh về sử dụng giá trị thương hiệu
bổ sung vốn chủ sở hữu đã giải thích như sau :
1. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 – Tài sản cố định vô hình, ban hành
kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính quy
định về tiêu chuẩn ghi nhận tài sản thì thương hiệu mặc dù là Tài sản vô hình
được tạo từ nội bộ doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không được ghi nhận là tài
sản vì:
- Thương hiệu không phải là nguồn lực có thể xác định được.
- Không đánh giá được một cách đáng tin cậy.
- Doanh nghiệp không kiểm soát được.
2. Hiện nay, cơ chế tài chính của Nhà nước chưa quy định về giá trị quyền sử
dụng thương hiệu. Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài
chính ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định chưa
quy định thương hiệu là tài sản cố định vô hình nên cũng chưa có cơ sở hướng
dẫn hạch toán.
Từ các lý do nêu trên, các công ty không được góp vốn thành lập công ty cổ phần
bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu. Công ty TNHH XD và CBTP Kinh Đô tự
xác định giá trị thương hiệu nhưng không được ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế biết và thực hiện.
Có thể nói, Công văn 3539 như là sự phủ nhận của cơ quan quản lý nhà nước đối
với việc góp vốn thành lập công ty bằng giá trị thương hiệu. Đây cũng chính là văn bản
khởi nguồn cho rất nhiều tranh luận về sau đối với vấn đề góp vốn bằng giá trị thương
hiệu nói riêng và góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ nói chung.
Trải qua một thời gian khá dài (từ năm 2006 đến năm 2010), sau rất nhiều tranh
cãi xung quanh việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ, cơ quan quản lý nhà nước
(chính phủ) đã ban hành nghị định trong đó một lần nữa khẳng định cho phép góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
Có thể thấy rằng, nếu chỉ bằng nỗ lực của một cơ quan (Bộ tài chính) để giải
quyết các vấn đề pháp lý về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ thì sẽ còn rất nhiều chông
gai và thử thách. Bởi lẽ bản thân nội hàm của khái niệm góp vốn bằng giá trị quyền sở
hữu trí tuệ đã cho thấy ở đây có ít nhất 03 vấn đề cần giải quyết :
- Thứ nhất, là việc góp vốn (vấn đề này liên quan chặt chẽ với Bộ kế hoạch đầu tư
trong việc quy định trình tự, thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp).
- Thứ hai, là vấn đề xác định giá trị đem góp vốn (vấn đề này liên quan trực tiếp
đến thẩm quyền giải quyết của Bộ tài chính)
- Thứ ba, là vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ (Vấn đề này liên quan trực tiếp đến Bộ
Khoa học và công nghệ).
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN
BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
3.1. Kiến nghị về nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật của các chủ
thể khi tham gia góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Do đặc thù của công việc, không phải ai là chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ
cũng mất công tìm hiểu về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Chính bởi vậy mà một
phần nào đó giá trị của quyền sở hữu trí tuệ đã không được khai thác và đánh giá đúng
mức. Đơn cử có thể thấy rõ việc cổ phần hóa của nhiều doanh nghiệp nhà nước đã không
liệt kê các giá trị của quyền sở hữu trí tuệ về: Nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công
nghiệp, các sáng chế và giải pháp hữu ích, ... gây thất thoát một giá trị không nhỏ tài sản
nhà nước.
Đứng trước thực trạng trên, đặt ra yêu cầu cấp bách đối với các chủ thể của
quyền sở hữu trí tuệ cần phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ và toàn diện về quyền sở hữu
trí tuệ cũng như giá trị có thể mang lại khi sử dụng các quyền đó. Điều đó được thể
hiện qua một số nội dung sau:
Thứ nhất, là đăng ký để xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, xác định được giá trị của quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ ba, lựa chọn đối tác góp vốn
Thứ tư, tiến hành góp vốn theo quy định
3.2. Nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quy định
góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Xem xét một cách khách quan , các khía cạnh pháp lý về góp vốn bằng giá trị
quyền sở hữu trí tuệ xoay quanh 03 chủ thể : Bên góp vốn, bên nhận góp vốn và cơ quan
quản lý nhà nước, trong đó vai trò của cơ quan quản lý nhà nước là vô cùng quan trọng.
Thực tế đã chứng minh, khi cơ quan quản lý nhà nước không thừa nhận việc góp
vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ (Bộ tài chính) đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các
doanh nghiệp và người góp vốn, thậm trí có thể nói là hoạt động đó đã dừng hoặc ở
dưới một dạng thức khác.
Việc „„không thừa nhận‟‟ góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ thực chất
không phải là ý chí chủ quan của một bộ, ngành hay cơ quan nào, mà đó là hệ quả của
quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn đời sống. Gần như là theo một quy tắc chung,
khi gặp bất kỳ tình huống phát sinh nào trong thực tiễn cần điều chỉnh thì cơ quan quản lý
nhà nước sẽ đối chiếu với quy định hiện hành để xử lý. Điều đáng nói ở đây là việc góp
vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã được quy định không rõ ràng, dẫn
đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau. Khi chưa có một tiếng nói chung thống nhất,
phần lớn các cơ quan quản lý nhà nước sẽ „„tạm dừng‟‟ cho triển khai những nội dung đó
trong thực tiễn, và việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ cũng không phải là một
ngoại lệ.
Chúng tôi cho rằng, đứng về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần có các biện
pháp tích cực hơn, mạnh mẽ hơn và chủ động hơn nữa để sớm có tiếng nói chung trong
vấn đề góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ:
- Về phía bộ Kế hoạch và đầu tư, là cơ quan quản lý về đăng ký kinh doanh, cần
sớm có văn bản quy phạm pháp luật khẳng định việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu
trí tuệ. Các văn bản hướng dẫn về đăng ký kinh doanh liên quan đến góp vốn bằng giá trị
quyền sở hữu trí tuệ đều ở tầm Nghị định (do Chính phủ ban hành), chưa thể hiện rõ quan
điểm của Bộ kế hoạch đầu tư cũng như chưa có hướng dẫn cụ thể để thực hiện góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
- Về phía Bộ Tài chính, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thừa nhận
thương hiệu nói riêng, giá trị quyề sở hữu trí tuệ nói chung, là một tài sản vô hình của
doanh nghiệp và hướng dẫn cách xác định giá trị thương hiệu để họ ghi nhận giá trị
thương hiệu vào bảng cân đối kế toán của mình và áp dụng chung cho các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế. Một văn bản như vậy hoàn toàn có thể ban hành mà không
nhất thiết phải sửa lại hệ thống các chuẩn mực kế toán đã ban hành. Đây cũng là vướng
mắc đã tồn tại lâu mà các bên chưa có hướng giải quyết dứt điểm.
- Về phía Bộ Khoa học công nghệ, cũng cần sớm ban hành một văn bản quy
phạm pháp luật giải thích rõ về giá trị quyền sở hữu trí tuệ sử dụng để góp vốn.
3.3. Định hướng xây dựng đồng bộ các quy định của pháp luật điều chỉnh
việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Việc xây dựng đồng bộ các quy định của pháp luật điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị
quyền sở hữu trí tuệ đòi hỏi:
- Thứ nhất, phải có sự tham gia đóng góp ý kiến của các bên liên quan đến quá
trình góp vốn (Bên góp vốn và bên nhận góp vốn) bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
- Thứ hai, phải có sự đồng thuận giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
(Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Tài chính) trong việc áp dụng
pháp luật đối với góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
- Thứ ba, cần có một văn bản quy phạm pháp luật chung giữa các cơ quan quản lý
nhà nước có liên quan điều chỉnh và hướng dẫn việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu
trí tuệ.
Để đảm bảo xây dựng đồng bộ các quy định của pháp luật liên quan đến việc góp
vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ, đòi hỏi cần thực hiện những biện pháp sau:
Thứ nhất, tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản khác có liên
quan điều chỉnh hoặc hướng dẫn về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ,
Thứ hai, tập hợp ý kiến của các bên liên quan để có cái nhìn tổng thể về góp vốn bằng giá
trị quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm:
- Ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan (Bộ Khoa học công nghệ,
Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính).
- Ý kiến của các doanh nghiệp (Đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty)
- Ý kiến của các chuyên gia, luật sư trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu
trí tuệ.
Thứ ba, Chính phủ cần thiết phải thành lập một tổ công tác có nhiệm vụ theo dõi, đánh
giá và tiến tới ban hành quy định chung về vấn đề góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí
tuệ. Tổ công tác này chính là cơ quan đầu mối thực hiện việc rà soát văn bản, tập hợp ý
kiến liên quan và thực hiện xây dựng quy định thống nhất về góp vốn bằng giá trị quyền
sở hữu trí tuệ. Thành phần của tổ công tác dự kiến cần có:
- Đại diện Chính phủ (Giữ vai trò Tổ trưởng, chỉ đạo chung)
- Đại diện Bộ Tư pháp (Thực hiện rà soát và đánh giá văn bản)
- Đại diện Bộ Kế hoạch và đầu tư (Tham mưu)
- Đại diện Bộ Khoa học và công nghệ (Tham mưu)
- Đại diện Bộ Tài chính (Tham mưu)
Hoạt động của Tổ công tác sẽ mang tính thống nhất chung, tránh được tình trạng
mỗi Bộ, ngành làm một kiểu, áp dụng pháp luật không thống nhất, thậm trí có thể dẫn
đến tình trạng áp dụng sai pháp luật. Kết quả làm việc của Tổ công tác là cơ sở quan trọng
để đảm bảo sự đồng bộ trong việc áp dụng pháp luật, đi đến thống nhất cao, góp phần quan
trọng phát huy giá trị của tài sản trí tuệ nói chung và việc góp vốn bằng giá trị quyền sở
hữu trí tuệ nói riêng.
3.4. Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật dân sự và Luật sở hữu trí
tuệ về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
* Sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 753 Bộ luật dân sự
* Sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ
* Làm rõ khái niệm “chuyển nhượng” và “chuyển giao” quy định trong Luật
sở hữu trí tuệ
3.5. Định hướng xây dựng Nghị định để quản lý hoạt động góp vốn bằng giá
trị quyền sở hữu trí tuệ
Như đã phân tích ở trên, hoạt động góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã đề
cập đến rất nhiều vấn đề (sở hữu trí tuệ, góp vốn, xác định giá trị) và liên quan đến nhiều
cơ quan quản lý khác nhau (Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Tài
chính). Việc giao trách nhiệm hướng dẫn thực hiện góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí
tuệ cho một cơ quan nào đó sẽ dẫn đến sự thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến việc
thực thi các quy định của pháp luật liên quan đến việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu
trí tuệ. Vì vậy, theo chúng tôi cần thiết phải phải giao cho một cơ quan có đủ thẩm quyền
để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật đủ tầm điểu chỉnh các hoạt động trên. Theo
chúng tôi, việc Chính phủ đứng ra xây dựng một Nghị định về quản lý hoạt động góp vốn
bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ là một việc làm phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Mặc
dù việc xây dựng Nghị định cần kế hoạch, thời gian và lộ trình tương đối dài nhưng đây
là việc mà cơ quan quản lý Nhà nước cần nghiêm túc nhìn nhận và thực hiện để xóa bỏ
những bất cập trong tình hình hiện nay, tiến tới hình thành khung pháp lý thống nhất cho
hoạt động góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam trong tương lai.
Theo chúng tôi, việc xây dựng một Nghị định như trên cần đảm bảo những nội dung sau:
- Khẳng định sự hợp pháp của việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ;
- Nên xác định rõ từng đối tượng góp vốn (Quyền tác giả, quyền liên quan đến
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng);
- Quy định cụ thể về các điều kiện góp vốn và nhận góp vốn;
- Quy định rõ ràng về cách thức xác định giá trị của tài sản góp vốn cũng như
hướng dẫn cách hạch toán đối với doanh nghiệp;